Phát biểu của Bộ trưởng - Trưởng ban tại Hội nghị toàn quốc về công tác phòng chống thiên tai

BÁO CÁO
CỦA BỘ TRƯỞNG – TRƯỞNG BAN
Tại Hội nghị toàn quốc về công tác phòng chống thiên tai


Kính thưa đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Kính thưa đồng chí Trịnh Đình Dũng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Kính thưa các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương; lãnh đạo các tỉnh, thành phố, các tổ chức quốc tế, các chuyên gia, nhà khoa học;
Thưa tất cả các quý vị đại biểu!
Thay mặt cho Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai, tôi xin trình bày tóm tắt Báo cáo về công tác phòng chống thiên tai và những giải pháp nâng cao hiệu quả, năng lực phòng chống thiên tai.
PHẦN THỨ I
CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI NHỮNG NĂM VỪA QUA

Thưa các quý vị đại biểu!
Trong những năm qua thiên tai trên thế giới và trong khu vực diễn ra ngày càng phức tạp, khó lường, là một trong những mối lo lớn nhất của nhân loại. Ở nước ta, thiên tai đã và đang diễn ra rất nghiêm trọng với những yếu tố hết sức cực đoan, bất thường, khó dự báo, cảnh báo.
Trong bài phát biểu chỉ đạo, định hướng hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh mức độ khốc liệt, tính bất thường, khó lường của thiên tai tại Việt Nam.
Chúng ta cũng đã được xem những thước phim cô đọng, súc tích về tình hình thiên tai trong những năm vừa qua, nhất là thiên tai năm 2017 bất thường, diễn ra suốt cả năm, trên tất cả các vùng miền, tại những nơi ít xảy ra thiên tai lớn (như bão số 12 đổ bộ vào Khánh Hòa); với nhiều kỷ lục, trong đó có kỷ lục về số lượng cơn bão, áp thấp nhiệt đới (16 cơn bão, 4 áp thấp nhiệt đới), 22 đợt thiên tai có cấp độ rủi ro từ cấp 3 trở lên; lượng mưa có khu vực đạt 4.777mm/năm (Bắc Quang); tổng lượng mưa đợt lên tới 19 tỷ m3 (bão số 12), lưu lượng Hồ Hòa Bình ngoài mùa lũ đạt 16.520 m3/s với tổng lượng trên 1,4triệu m3 nước (tháng 10), lần đầu tiên vận hành 08 cửa xả đáy; xuất hiện 426 sự cố/170 km đê, kè và kỷ lục về nhiệt độ cao nhất trong mùa hè (420C) và nhiều bất thường của thiên tai khác.
(Thông tin chi tiết đã được nêu trong báo cáo đầy đủ gửi đến các quý vị đại biểu)
Để dành thời gian cho các phần sau, tôi xin không trình bày lại diễn biến thiên tai cũng như các kết quả đã đạt được. Báo cáo tóm tắt xin được nhấn mạnh các nội dung sau:
CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO ỨNG PHÓ
Ứng phó với thiên tai trong những năm qua, cả hệ thống chính trị, từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTT, các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức, cơ quan đoàn thể, báo chí, nhân dân vùng thiên tai đã vào cuộc triển khai quyết liệt, mạnh mẽ. Lực lượng vũ trang đã huy động trên 444.000 lượt cán bộ, chiến sỹ. Nhiều tấm gương cán bộ, chiến sỹ, phóng viên đã không quản ngại nguy hiểm để thực hiện nhiệm vụ (trong đó phải kể đến tai nạn của phóng viên Đinh Hữu Dư).
Nhiều cách làm sáng tạo, quyết đoán, kịp thời đã được thực thi trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả đặc biệt là vận hành liên hồ, ứng phó với lũ vượt mốc lịch sử trên một số tuyến đê, cảnh báo tới cộng đồng bằng tin nhắn, tiếp nhận phân phối hỗ trợ của quốc tế, tuyên truyền tới cộng đồng bằng nhiều hình thức sống động, sáng tạo, hiệu quả…
Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều công điện chỉ đạo, điều hành quyết liệt; kịp thời có các bức điện gửi đồng bào, chiến sỹ cả nước, lực lượng phòng chống thiên tai ghi nhận những đóng góp, hy sinh đồng thời nhắc nhở, yêu cầu các ngành, các cấp và người dân phải chủ động hơn nữa trong phòng chống thiên tai.
Các Bộ, ngành, địa phương đã tổ chức tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm; kiện toàn Ban chỉ đạo, Ban chỉ huy PCTT và TKCN các cấp; tổ chức kiểm tra công tác chuẩn bị, công trình PCTT trước mùa mưa lũ. Tổ chức trực ban, bám sát diễn biến thiên tai, tham khảo thông tin quốc tế; ứng dụng khoa học công nghệ để theo dõi, giám sát tình hình diễn biến thiên tai; chỉ đạo các địa phương, cơ quan liên quan vận hành hợp lý liên hồ chứa; tổ chức họp bàn biện pháp và quyết định huy động lực lượng, phương tiện ứng phó thiên tai; tham mưu ban hành công điện của Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo gửi các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan liên quan; tham mưu tổ chức đoàn công tác của Chính phủ, Ban chỉ đạo trực tiếp tới hiện trường cùng địa phương chỉ huy ứng phó thiên tai; Kịp thời tổng hợp thiệt hại, nhu cầu, đề xuất Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ kịp thời cho các địa phương khắc phục hậu quả, khôi phục đời sống, sản xuất, vệ sinh môi trường, phòng chống dịch bệnh. Nhờ vậy đã giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng của cả hệ thống chính trị, từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTT, các Bộ, ngành, địa phương, các cơ quan đoàn thể, tổ chức, cá nhân, cùng với sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế nhưng chúng ta vẫn chịu thiệt hại rất nặng nề với 386 người chết và mất tích, thiệt hại kinh tế lên đến 60.000 tỷ đồng.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, chúng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận trong những đợt thiên tai lớn gần đây thiệt hại về người và cơ sở hạ tầng đang có xu thế gia tăng; thực tiễn công tác phòng chống thiên tai hiện nay đã và đang bộc lộ những tồn tại, hạn chế cũng như những thách thức mới cần đánh giá, xác định nguyên nhân cũng như đề ra giải pháp, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành, địa phương tháo gỡ giải quyết  kịp thời trong thời gian tới
I. Những tồn tại, hạn chế chung:
- Khả năng chống chịu của cơ sở hạ tầng, năng lực ứng phó của lực lượng phòng chống thiên tai với một số tình huống thiên tai lớn còn bất cập (426 sự cố đê điều năm 2017, 7.800 cột điện bị đổ trong bão số 10), có nơi còn lúng túng trong công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện; huy động lực lượng đông đảo nhưng hiệu quả thấp; nhận thức và kỹ năng tự ứng phó với thiên tai của nhiều cấp chính quyền và người dân chưa đáp ứng yêu cầu;
- Mặc dù chính phủ đã rất nỗ lực bố trí kinh phí, tuy nhiên nguồn lực cho phòng chống thiên tai còn hạn chế và phân tán, chưa có đầu mối để theo dõi, điều phối tổng thể (mới triển khai được 40-50% chương trình đầu tư đê sông, đê biển, 30% chương trình an toàn hồ chứa); chưa có chính sách tài chính bền vững trước thiên tai, chưa huy động được nhiều doanh nghiệp, cộng đồng xã hội tham gia đầu tư hoặc cung cấp dịch vụ phòng chống thiên tai;
- Trình tự thủ tục trong một số hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả, tiếp nhận viện trợ còn theo các thủ tục thông thường nên không đáp ứng được yêu cầu, kéo dài thời gian phục hồi, tái thiết, giảm hiệu quả đầu tư, không phù hợp với thực tiễn. Một số địa phương còn lúng túng trong triển khai nguồn hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai.
- Việc ứng dụng khoa học công nghệ còn hạn chế trong dự báo, theo dõi, giám sát, phân tích tính toán, cảnh báo, chỉ đạo, chỉ huy, điều hành với những tình huống thiên tai lớn, phạm vi rộng hoặc cục bộ như đối phó với bão mạnh, siêu bão, lũ lớn tại các lưu vực sông liên tỉnh, lũ quét sạt lở đất; chưa có nhiều nghiên cứu áp dụng cho thực tiễn, thiếu các trang thiết bị chuyên dùng để ứng phó với các tình huống phức tạp.
- Sự tham gia phối hợp của một số cơ quan liên  ngành, địa phương, thành viên Ban Chỉ đạo; thực thi, giám sát thi hành Luật Phòng chống thiên tai còn nhiều hạn chế; nhiều công trình, dự án làm gia tăng rủi ro thiên tai do không lồng ghép hoặc chưa quan tâm đúng mức đến nội dung phòng, chống thiên tai.
Đối với một số trường hợp thiên tai cụ thể còn tồn tại:
- Bão, ATNĐ: Công tác quản lý tàu thuyền (với trên 110.000 tàu thuyền đánh bắt thủy sản và rất nhiều tàu vận tải thường xuyên hoạt động trên biển) còn nhiều khó khăn, bất cập nhất là chất lượng tàu thuyền, thiết bị đảm bảo thông tin liên lạc, đăng ký ngư trường, khu neo đậu. Sơ tán dân, di chuyển lồng bè, chằng chống nhà cửa, chặt tỉa cành cây, an toàn hệ thống lưới điện, hệ thống thông tin liên lạc và khả năng chống bão của khu vực ven biển Nam Trung Bộ (Khánh Hoà) và đồng bằng sông Cửu Long còn nhiều hạn chế, một số nơi vẫn còn tư tưởng chủ quan và tổ chức thực hiện chưa quyết liệt.
- Mưa, lũ: Dự báo lượng mưa còn hạn chế, nên việc chỉ đạo điều hành phòng chống lũ, đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản, công trình hồ chứa, đê điều đang gặp nhiều khó khăn; ứng phó với lũ ngập sâu và kéo dài nhiều ngày ở khu vực miền Trung hiện chưa có giải pháp giải quyết triệt để; nhiều hệ thống đê điều, hồ chứa bị sự cố (426 sự cố đê điều, 23 sự cố hồ chứa),xuống cấp không đảm bảo an toàn, nhất là trong mùa mưa bão năm 2018.
- Lũ quét, sạt lở đất: đã và đang diễn ra ngày càng gia tăng đối với khu vực dân cư miền núi, khu vực khai thác khoáng sản, các tuyến đường giao thông, các công trình kinh tế - xã hội gây thiệt hại lớn về người và tài sản.
- Về hạn hán, xâm nhập mặn: có nguy cơ gia tăng do hạ thấp lòng dẫn nhiều tuyến sông chính nhất là trên hệ thống sông Hồng, sông Cửu Long; các khu vực Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên vẫn tiềm ẩn nguy cơ cao khi xuất hiện đợt hạn hán như đã xảy ra vào năm 2015 kéo dài đến giữa năm 2016;
- Sạt lở bờ sông, bờ biển: đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng (gần 2.100 điểm sạt lở bờ sông, bờ biển / 2.700 km trong đó có 91 điểm sạt lở nghiêm trọng), gây thiệt hại về tài sản; diện tích đất bị mất ngày càng tăng, bình quân một năm bị sạt lở 300ha đất ven biển.
II. Tồn tại nêu trên do các nguyên nhân từ khách quan và cũng có nguyên nhân do chủ quan:
Về nguyên nhân khách quan:
- Do tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thiên tai có diễn biến bất thường, cực đoan hơn cả về cường độ, diễn ra trong suốt cả năm, trên các vùng miền của cả nước và có thay đổi so với quy luật trước đây; nhiều nơi có mưa cục bộ cường độ rất lớn (783 mm/ngày – Trà My, Quảng Nam), mưa trái mùa, bão đổ bộ vào khu vực trước đây ít xuất hiện (như bão số 12 đổ bộ vào tỉnh Khánh Hòa), dông lốc thường xuyên xảy ra gây thiệt hại cho hầu hết các khu vực trên cả nước;
- Dân số gia tăng, quy mô xã hội, nền kinh tế ngày càng lớn, các hoạt động có nguy cơ rủi ro thiên tai ngày càng gia tăng nhanh chóng nhất là quy mô dân số, hoạt động kinh tế - xã hội gia tăng nhanh tại các khu vực thành phố, khu đô thị lớn.
- Nhiều hoạt động sử dụng nguồn nước của các quốc gia thượng nguồn sông Mêkong, sông Hồng thiếu bền vững làm gia tăng thiên tai cho các nước hạ nguồn, trong đó có Việt Nam nhất là khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Về nguyên nhân chủ quan:
Thứ nhất là về nhận thức:
Một số bộ phận chính quyền, người dân nhận thức về công tác phòng chống thiên tai còn hạn chế nên chưa thực sự quan tâm đúng mức đến: tổ chức bộ máy, lực lượng, cơ sở vật chất, lồng ghép nội dung PCTT trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển hạ tầng kỹ thuật, đào tạo hướng dẫn nâng cao nhận thức của cộng đồng… nên việc xây dựng kế hoạch, phương án phòng chống thiên tai chưa sát với thực tiễn, chưa kịp thời nắm bắt diễn biến thiên tai dẫn đến lúng túng trong triển khai nhiệm vụ.
Tình trạng dân làm nhà ở trong lòng sông, kênh, rạch, ven sông suối, khu vực có nguy cơ lũ quét sạt lở đất ngày càng gia tăng nhất là khu vực miền núi và ĐBSCL; nhiều công trình, cơ sở hạ tầng đã và đang làm gia tăng rủi ro thiên tai, cản lũ, co hẹp không gian thoát lũ, gia tăng ngập lụt, cá biệt có những công trình ảnh hưởng lớn đến thoát lũ như một số đoạn trên Quốc lộ Bắc Nam.
Quản lý sử dụng đất, quy hoạch sản xuất, cơ cấu mùa vụ ở một số địa  phương đã có sự quan tâm, chuyển dịch như kết hợp lúa - tôm vùng nước lợ ĐBSCL, chuyển đổi cây trồng sử dụng ít nước ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, song còn một số địa phương vẫn chưa quyết liệt triển khai thực hiện gây thiệt hại cho sản xuất khi gặp rủi ro thiên tai.
Thứ hai là về tổ chức bộ máy:
Tổ chức hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai còn nhiều bất cập nhất là việc tham gia của một số thành viên Ban chỉ đạo (thậm chí có thành viên vắng mắt trong hầu hết các cuộc họp). Hoạt động của Ban chỉ đạo cần được chuyển biến mạnh mẽ để thực sự có hiệu lực, hiệu quả cao trong việc chỉ đạo các Bộ ngành, các vùng miền, địa phương xây dựng xã hội an toàn hơn trước thiên tai, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản.
Ban chỉ huy PCTT và TKCN cấp tỉnh, huyện, xã phần lớn đã được kiện toàn do Chủ tịch UBND làm trưởng ban và hoạt động tốt và hiệu quả, song tại một số địa phương, việc kiện toàn Ban chỉ huy còn hạn chế, chưa ban hành quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ cụ thể, thiếu kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện nên đã không nắm bắt kịp thời diễn biến thiên tai, khó khăn cho công tác chỉ đạo ứng phó cũng như xử lý khắc phục hậu quả.
vướng mắc, giải quyết kịp thời kiến nghị từ cơ sở nên.
Cơ quan giúp việc còn hạn chế cả về con người và cơ sở vật chất, công cụ phục vụ theo dõi, giám sát, tham mưu chỉ đạo, chỉ huy; nhất là tại cấp tỉnh, cấp huyện cán bộ chủ yếu còn kiêm nhiệm; cá biệt có địa phương không thành lập Văn phòng thường trực Ban chỉ huy PCTT cấp tỉnh, văn phòng thường trực không có cơ sở dữ liệu, không có quy chế làm việc, trang thiết bị chuyên dùng, tổ chức bộ máy thường trực PCTT ở cấp huyện chưa phù hợp; cấp xã công tác phòng chống thiên tai chưa được phân giao trong Luật Cán bộ, công chức.
Thứ ba là về văn bản quy phạm, pháp luật, cơ chế chính sách:
Một số văn bản quy phạm pháp luật còn bộc lộ nhiều hạn chế, triển khai trong thực tiễn còn bất cập nhất là một số quy định về cấp độ rủi ro thiên tai, quản lý, sử dụng quỹ phòng chống thiên tai, xử phạt vi phạm hành chính; khắc phục hậu quả, tái thiết sau thiên tai; thiếu các quy định về kiểm soát an toàn thiên tai, các chính sách bền vững về tài chính, xã hội hóa, ưu tiên, thu hút sự tham gia của tổ chức, cá nhân trong phòng chống thiên tai.
Thứ tư là về nguồn lực:
Nhân lực còn thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn, chủ yếu làm kiêm nhiệm nhất là ở cấp huyện, xã; cơ sở vật chất, trang thiết bị còn nghèo nàn, lạc hậu, chưa đồng bộ, có khoảng cách rất lớn so với các nước trong khu vực;
Tài chính còn chưa có dòng ngân sách riêng cho công tác phòng chống thiên tai để chủ động tổ chức thực hiện các hoạt động phòng ngừa trước thiên tai, xây dựng kế hoạch hàng năm và xử lý khi có tình huống bất thường xảy ra (nhiều quốc gia trên thế giới đã có quy định cụ thể ngân sách dự phòng Trung ương, địa phương, doanh nghiệp cho phòng chống thiên tai – Phillipine); việc triển khai thành lập và hoạt động quỹ phòng chống thiên tai và bảo hiểm rủi ro thiên tai còn chậm. Hiện chưa có quỹ phòng, chống thiên tai cấp quốc gia nên việc huy động nguồn lực ở trung ương, điều phối giữa các địa phương và chủ động triển khai các nhiệm vụ phòng chống thiên tai còn hạn chế;
Việc xã hội hóa, khuyến khích tư nhân tham gia đầu tư cung cấp dịch vụ, xây dựng công trình phòng chống thiên tai đã được triển khai song còn rất hạn chế. Mặc dù đây là nội dung rất quan trọng để phát huy nguồn lực bền vững của toàn xã hội cho PCTT, tuy nhiên ít được các doanh nghiệp, cộng đồng quan tâm do đầu tư cho lĩnh vực này hiệu quả thấp, rủi ro cao trong khi chưa có chính sách, hướng dẫn ưu đãi cụ thể.
Thứ năm là về khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế:
Ứng dụng khoa học công nghệ trong phòng chống thiên tai đã được triển khai mạnh mẽ, trong một số lĩnh vực đã ứng dụng công nghệ tiên tiến tương đương các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu của chúng ta mới chỉ dừng lại ở bước nghiên cứu lý thuyết, khả năng ứng dụng thấp, chưa hiệu quả, chưa tiếp cận và đáp ứng yêu cầu hiện nay.
Hợp tác quốc tế với các nước sông Mê Công, sông Hồng còn hạn chế trong sử dụng, chia sẻ thông tin về nguồn nước, điều tiết dòng chảy, xả lũ; việc phối hợp quản lý về ngư trườngtạo điều kiện tránh trú cho tàu thuyền khai thác trên biển và ngư dân khi xảy ra bão, ATNĐ còn bất cập;
Thứ sáu là về thực thi luật pháp liên quan đến phòng chống thiên tai:
Tình trạng vi phạm pháp luật về phòng, chống thiên tai chưa được ngăn chặn triệt để, thiếu chế tài xử phạt nghiêm minh nhất là trong lĩnh vực khai thác cát sỏi và vi phạm về đê điều; đóng góp quỹ phòng, chống thiên tai, kiểm soát hoạt động kinh tế xã hội làm gia tăng rủi ro thiên tai. Chưa tổ chức các đoàn liên ngành của Chính phủ, Quốc Hội để kiểm tra, giám sát việc thực thi một số Luật liên quan nhất là Luật PCTT.
Việc lồng ghép công tác phòng chống thiên tai trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội còn chưa được đề cập trong chiến lược, quy hoạch, các chương trình đề án, dự án dẫn đến làm gia tăng nhanh rủi ro thiên tai, thiệt hại ở nhiều khu vực.
PHẦN THỨ II
NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM
TRONG CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI

Thưa các quý vị đại biểu !
Căn cứ nhận định tình hình thiên tai năm 2018 của Trung tâm dự báo Khí tượng thủy văn Trung ương và thực trạng công tác phòng chống thiên tai hiện nay, những bài học kinh nghiệm sau những trận thiên tai lớn vừa qua, để chủ động ứng phó với các tình huống thiên tai có thể xảy ra, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản, môi trường, các hoạt động kinh tế xã hội, góp phần phát triển bền vững đất nước, tiếp tục phát huy những kết quả, kinh nghiêm đã có, trong thời gian tới cần tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chính như sau:

I. MỤC TIÊU

Hoàn thiện thể chế chính sách, tổ chức bộ máy, cơ chế phối hợp trong hoạt động phòng chống thiên tai giữa các Bộ, ngành và địa phương; huy động tối đa sự tham gia của các tổ chức chính trị, doanh nghiệp và cộng đồng để chủ động phòng ngừa, giảm nhẹ thiệt hại về người và tài sản, đồng thời đẩy nhanh tiến độ phục hồi, tái thiết sau thiên tai nhằm sớm ổn định đời sống, sức khỏe, môi trường, sản xuất của nhân dân đối với từng loại hình thiên tai chính của các vùng miền, khu vực trong cả nước.

II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM NĂM 2018

Ngoài các nhiệm vụ thường xuyên hàng năm được giao, trước những diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp, cực đoan cũng như đòi hỏi việc đảm bảo an toàn trước thiên tai cho một xã hội có quy mô ngày càng lớn, các Bộ, ngành và địa phương cần tập trung chỉ đạo đẩy nhanh việc khắc phục tồn tại và thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2018 như sau:
Thứ nhất về tổ chức bộ máy và cơ chế chính sách, tiêu chuẩn, quy chuẩn:
a) Kiện toàn tổ chức, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên Ban Chỉ đạo, Ban chỉ huy PCTT&TKCN các cấp; xây dựng quy chế làm việc, triển khai thực hiện nghiêm túc, bài bản, chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được phân công; có kiểm điểm đánh giá việc thực thi nhiệm vụ; (Thường trực Ban chỉ đạo sẽ có hướng dẫn chi tiết tới các Bộ, ngành và các địa phương).
b) Xây dựng kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp quốc gia và các cấp tỉnh, huyện, xã sát thực, cụ thể, phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng giải pháp, quy định nhiệm vụ, trách nhiệm của các cơ quan đơn vị liên quan đồng thời lập kế hoạch triển khai thực hiện và kiểm tra giám sát việc thực hiện.
c) Triển khai, kiểm tra, giám sát việc thực thi Luật phòng, chống thiên tai, Luật Thuỷ lợi, Luật Quy hoạch, Luật Khí tượng thuỷ văn và các văn bản hướng dẫn. Điều chỉnh, bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Đê điều, Nghị định 66/NĐ-CP và Nghị định 94/NĐ-CP, trong đó điều chỉnh người đứng đầu Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai là Thủ tướng Chính phủ; Điều chỉnh, bổ sung các quy định về khắc phục tái thiết và tiếp nhận, phân bổ hàng cứu trợ sau thiên tai; tổ chức đoàn liên ngành của Chính phủ, Quốc Hội kiểm tra việc thực thi pháp luật tại một số địa phương trọng điểm còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập.
d) Xây dựng chính sách cụ thể thúc đẩy xã hội hoá công tác phòng, chống thiên tai, trong đó tập trung vào khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp tham gia công tác PCTT, cung cấp dịch vụ công, bảo hiểm rủi ro thiên tai, nghiên cứu khoa học, xây dựng công trình phòng, chống thiên tai. Lập kế hoạch triển khai và định kỳ giám sát, báo cáo kết quả thực hiện.
đ) Xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn công trình an toàn trước thiên tai; nghị định kiểm soát an toàn thiên tai và tiến hành đẩy mạnh việc kiểm tra, kiểm soát, xử phạt vi phạm quy định về an toàn thiên tai
Thứ hai về nguồn lực và đầu tư cho công tác phòng, chống thiên tai:
a) Đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng phòng, chống thiên tai, tập trung triển khai các chương trình, dự án như: Chương trình đảm bảo an toàn hồ chứa nước, trong đó tập trung triển khai Dự án sửa chữa và nâng cao an toàn đập (WB8); Dự án Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững đồng bằng sông Cửu Long (WB9); Dự án Quản lý nước Bến tre; Dự án chống ngập các đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Cần Thơ,….; Các dự án đầu tư, nâng cấp, sửa chữa hồ chứa thuỷ lợi nguồn vốn trái phiếu Chính phủ để nâng cao năng lực chống hạn cho Nam Trung Bộ, Tây Nguyên; dự án biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh; nâng cao năng lực các khu neo đậu tàu thuyền trú tránh bão,…
b) Xây dựng Trung tâm điều hành phòng chống thiên tai Quốc gia đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh diễn biến thiên tai ngày càng trở nên khốc liệt cần tham mưu nhanh chóng, kịp thời, chính xác và hiệu quả đặc biệt là đối với những tình huống thiên tai lớn xảy ra trên diện rộng;
c) Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho Văn phòng thường trực các cấp; đảm bảo kết nối trực tuyến từ cơ quan phòng chống thiên tai Trung ương đến các tỉnh và công trình phòng, chống thiên tai trọng điểm quốc gia để chỉ đạo điều hành hiệu quả; Các địa phương chủ động bố trí kinh phí triển khai thực hiện trước mùa mưa bão năm 2018.
d) Hoàn thành xử lý cấp bách sự cố công trình đê điều, hồ đập, sơ tán dân khẩn cấp khu vực bị ảnh hưởng bởi mưa lũ, lũ quét và sạt lở đất trong năm 2017 đáp ứng yêu cầu phòng chống thiên tai năm 2018 và các năm tiếp theo theo kết luận của Thủ tướng Chính phủ;
đ) Xây dựng chương trình tổng thể phòng chống thiên tai các khu vực: miền núi phía Bắc (tập trung chính vào nâng cao năng lực ứng phó với lũ quét, sạt lở đất); miền Trung, Tây Nguyên (Nâng cao năng lực ứng phó với bão mạnh, siêu bão, đặc biệt với khu vực ít xảy ra bão) và triển khai thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP về đồng bằng sông Cửu Long;
e) Triển khai việc thành lập, quản lý thu, chi quỹ phòng, chống thiên tai đúng quy định trên cơ sở sử dụng hợp lý bộ máy hiện có tại địa phương (đây là trách nhiệm của Chủ tịch UBND tỉnh) để phát huy nguồn lực, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong đó hình thành Quỹ phòng chống thiên tai ở Trung ương; bảo hiểm rủi ro thiên tai, nghị định về xã hội hóa và các chính sách phát triển bền vững trong phòng, chống thiên tai.
Thứ ba về khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, thông tin, truyền thông và nâng cao nhận thức cộng đồng:
a) Tiếp tục nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo truyền tin thiên tai tới nhân dân; tăng cường hệ thống truyền tin về thiên tai tại cơ sở; xây dựng cơ chế đảm bảo sự tham gia của các nhà mạng viễn thông trong truyền tin thiên tai;
b) Đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông, đào tạo (kết hợp ứng dụng công nghệ hiện đại và phương thức truyền thống tại cơ sở) nhằm đưa thông tin tới tận người dân, nâng cao năng lực cộng đồng, hướng dẫn kỹ năng để nắm bắt tình hình, diễn biến thiên tai và chủ động ứng phó trong các tình huống, giảm thiểu rủi ro và thiệt hại do thiên tai gây ra.
c) Tăng cường hợp tác quốc tế và áp dụng khoa học công nghệ trong phòng chống thiên tai; tập trung nghiên cứu đề ra các giải pháp phù hợp, hiệu quả để quan trắc, giám sát, theo dõi, cảnh báo thiên tai, chỉ đạo điều hành đặc biệt đối với vận hành liên hồ, lũ quét, sạt lở đất khu vực miền núi và sạt lở bờ sông, bờ biển, kêu gọi tàu thuyền; Hoàn thành việc lắp đặt thí điểm cảnh báo lũ quét sạt lở đất tại một số tỉnh miền núi; tổng kết, xây dựng dự án mở rộng tại những vùng có nguy cơ cao. Chủ động đề xuất trong hợp tác quốc tế với các nước trên thế giới nhất là các nước trong khu vực và các nước có nhiều kinh nghiệm trong phòng chống thiên tai.
III. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
Để thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nêu trên, Ban Chỉ đạo xin đề xuất và kiến nghị Chính phủ xem xét ban hành Nghị quyết chuyên đề của Chính phủ về tăng cường công tác phòng chống thiên tai và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương theo chức năng nhiệm vụ triển khai các nội dung cụ thể như sau:
1. Hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các tỉnh/thành phố tổ chức kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về phòng chống thiên tai cấp tỉnh, cấp huyện đảm bảo chuyên trách, chuyên nghiệp, thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quy định trong Luật Phòng chống thiên tai trên cơ sở sắp xếp lại các tổ chức hiện có không làm gia tăng biên chế.
2. Rà soát, tham mưu điều chỉnh các quy định liên quan để kiện toàn Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh quy định về người đứng đầu Ban chỉ đạo; đồng thời trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Ban chỉ đạo.
3. Hướng dẫn, kiểm tra Ban chỉ huy Phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các cấp tỉnh, huyện, xã kiện toàn văn phòng thường trực, nâng cấp cơ sở vật chất, xây dựng hệ thống thông tin phục vụ chỉ đạo điều hành trực tuyến trước mắt từ Trung ương đến cấp tỉnh và các công trình trọng điểm phòng, chống thiên tai. Đề nghị Thủ tướng chính phủ giao xây dựng cơ chế đặc thù về cung cấp dịch vụ viễn thông công ích phục vụ phòng chống thiên tai đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Các tỉnh chủ động bố trí kinh phí để triển khai thực hiện tại địa phương.
4. Rà soát, tham mưu ban hành cơ chế huy động tài chính cho phòng chống thiên tai nhất là vận động, tiếp nhận, điều phối nguồn lực hỗ trợ quốc tế, nguồn lực từ Quỹ phòng chống thiên tai các cấp thông qua Quỹ phòng chống thiên tai được thành lập ở cấp quốc gia; đẩy nhanh tiến độ hình thành bảo hiểm rủi ro thiên tai trong nước, xem xét tham gia bảo hiểm rủi ro thiên tai quốc tế để từng bước giảm gánh nặng ngân sách.
5. Rà soát, ban hành các chính sách tăng cường xã hội hóa trong phòng chống thiên tai trong đó tập trung ưu tiên, thu hút đầu tư, chủ động cung cấp dịch vụ liên quan đến phòng chống thiên tai của các tổ chức, cá nhân phù hợp với quy định hiện hành.
6. Hướng dẫn, kiểm tra thực hiện kiểm soát an toàn thiên tai đối với các hoạt động xây dựng hạ tầng kỹ thuật, bố trí dân cư (tập trung, nhỏ lẻ), phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo an toàn, không làm gia tăng rủi ro thiên tai. Kiên quyết xử lý các dự án, hoạt động gây cản lũ, thu hẹp không gian trữ, thoát lũ, lấn ra bờ sông, bờ biển.
7. Đánh giá thực trạng, rà soát kịch bản, phương án ứng phó với các cấp độ rủi ro thiên tai, phương án trọng điểm bảo vệ đê điều, hồ đập, công trình hạ tầng kỹ thuật…, kiểm tra, kiểm soát lực lượng, cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị để sẵn sàng triển khai phương án theo phương châm 4 tại chỗ nhất là kịch bản, phương án ứng phó với tình huống lũ lớn trên hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình bảo vệ thủ đô Hà Nội, phương án sơ tán, di dời dân cư phòng tránh lũ ống, lũ quét, sạt lở đất. Cập nhật và phổ biến tới địa phương và người dân bản đổ nguy cơ lũ ống, lũ quét, sạt lở đất đá.
8. Rà soát, kiểm tra phương án đảm bảo giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không tại các khu vực thường xuyên bị thiên tai; chuẩn bị vật tư, phương tiện sẵn sàng khôi phục đảm bảo giao thông thông suốt. Kiểm tra, theo dõi, hướng dẫn tàu vận tải trên biển tránh trú bão không để xảy ra các sự cố đáng tiếc như thời gian vừa qua.
9. Rà soát, điều chỉnh những nội dung bất hợp lý trong quy trình vận hành liên hồ chứa, quy định về cấp độ rủi ro thiên tai;
10. Quy định cụ thể tổ chức, hoạt động lực lượng phòng chống thiên tai tại chỗ với lực lượng dân quân tự vệ làm nòng cốt; đảm bảo tổ chức có hệ thống, lực lượng được huấn luyện, tập huấn, trang bị và triền khai nhiệm vụ ngay từ giai đoạn phòng ngừa để giúp nhân dân chủ động phòng chống thiên tai và triển khai xử lý các tình huống thiên tai ngay từ giờ đầu.
11. Đưa kiến thức, kỹ năng phòng chống thiên tai vào nội dung chính khóa, ngoại khóa, chuyên đề trong các cấp học. Rà soát, kiểm tra cơ sở vật chất các trường học trong khu vực thường xuyên bị thiên tai đảm bảo trường học an toàn đồng thời là nơi tránh trú cho người dân trong khu vực.
12. Tăng cường truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng kết hợp truyền thông truyền thống, truyền thông cơ sở để kịp thời truyền tải thông tin tới từng người dân để chủ động chuẩn bị, phòng tránh, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai.
13. Tháo gỡ khó khăn, nhất là về chính sách thuế đối với dự án hỗ trợ không hoàn lại; đẩy nhanh tiến độ một số dự án đã có nguồn vốn để nhanh chóng đưa vào phục vụ công tác phòng chống thiên tai như:
- Dự án sửa chữa và nâng cao an toàn đập (WB8);
- Dự án Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững đồng bằng sông Cửu Long (WB9);
- Dự án Quản lý nước Bến tre;
- Dự án chống ngập các đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Cần Thơ,….;
- Dự án biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh;
- Dự án khắc phục hậu quả mưa lũ 2016 khu vực miền Trung (WB)
- Dự án vận hành xả lũ khẩn cấp sông Hương (JICA)
14. Bố trí kinh phí triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trong đó tập trung:
- Xử lý cấp bách sự cố công trình đê điều, hồ chứa, sạt lở đã bị hư hỏng do bão lũ năm 2017 để đáp ứng yêu cầu phòng chống thiên tai trước mùa mưa lũ năm 2018;
- Xây dựng Trung tâm điều hành phòng, chống thiên tai quốc gia đảm bảo đáp ứng yêu cầu theo dõi, giám sát tình hình thiên tai, vận hành công trình phòng chống thiên tai để tham mưu nhanh chóng, kịp thời, chính xác và hiệu quả;
- Thí điểm xây dựng công trình cảnh báo lũ quét, sạt lở đất khu vực miền núi, từ đó rút kinh nghiệm, tổng kết nhân rộng cho các khu vực khác.
- Di dân khu vực nguy cơ cao bị tác động bởi thiên tai để người dân có nơi ở an toàn, ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất
- Nghị quyết số 120/NQ-CP đảm bảo phát triển bền vững khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
15. Sớm trình Thủ tướng Chính phủ và có kế hoạch triển khai thực hiện:
- Chương trình tổng thể PCTT các khu vực: miền núi phía Bắc (tập trung chính vào nâng cao năng lực ứng phó với lũ quét, sạt lở đất);
- Chương trình tổng thể PCTT khu vực miền Trung, Tây Nguyên (Nâng cao năng lực ứng phó với bão mạnh, siêu bão, đặc biệt với khu vực ít xảy ra bão);
16. Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai cần chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức hoạt động, tăng cường phối hợp triển khai nhiệm vụ trong các giai đoạn từ phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện và tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương triển khai các nhiệm vụ trọng tâm về phòng chống thiên tai. Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế làm việc trước 15/5/2018.
Thay mặt Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai kính chúc sức khỏe đồng chí Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ và toàn thể quý vị đại biểu. Chúc hội nghị thành công tốt đẹp.
Xin trân trọng cám ơn !

BAN CHỈ ĐẠO TRUNG ƯƠNG VỀ PCTT
 Bấm vào biểu tượng bên cạnh để tải về file đầy đủ 

Đăng nhận xét

MKRdezign

{facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google-plus#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget