Tài liệu phục vụ Hội nghị Tổng kết công tác PCTT&TKCN năm 2016, triển khai nhiệm vụ năm 2017



BAN CHỈ ĐẠO TRUNG ƯƠNG
VỀ PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày     tháng     năm 2017

BÁO CÁO
Tổng kết công tác phòng chống thiên tai năm 2016
triển khai nhiệm vụ năm 2017


PHẦN I
TỔNG KẾT CÔNG TÁC PCTT NĂM 2016
  1. TÌNH HÌNH THIÊN TAI
1. Diễn biến thiên tai
Năm 2016, thiên tai trên thế giới và trong khu vực diễn biến rất phức tạp đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản trong đó điển hình là: siêu bão Matthew trên cấp 17 đổ bộ vào khu vực Trung Mỹ và miền Nam Hoa Kỳ làm gần 900 người thiệt mạng, siêu bão Meranti đổ bộ vào Trung Quốc và siêu bão Chaba đổ bộ vào Hàn Quốc làm hàng chục người chết, mất tích; động đất tại Đài Loan mạnh 6,4 độ richter làm 117 người chết; động đất ở Indonesia mạnh 7,8 độ richter làm trên 100 người thiệt mạng,...
Ở nước ta, thiên tai xảy ra dồn dập từ đầu năm đến cuối năm, trên khắp các vùng miền trong cả nước với cường độ lớn, phạm vi rộng, đồng thời thể hiện tính cực đoan, bất thường như: rét hại, băng giá ở các tỉnh Bắc Bộ và hạn hán, xâm nhập mặn ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên đã đạt mức lịch sử; 10 cơn bão và 7 ATNĐ đi vào biển Đông trong đó 6 cơn bão, ATNĐ tác dộng trực tiếp đến đất liền cùng với một số hình thái thời tiết khác đã gây mưa lũ đặc biệt lớn, bất thường, liên tục và kéo dài trên toàn bộ khu vực miền Trung; sạt lở bờ sông, bờ biển xảy ra nhiều nơi; dông, lốc, sét xảy ra với gió giật rất mạnh ở các vùng miền trên cả nước,... Cụ thể một số đợt thiên tai điển hình như:
  • Hạn hán, xâm nhập mặn: Từ cuối năm 2014 đến giữa năm 2016, hiện tượng El Nino mạnh, kéo dài nhất trong lịch sử, nền nhiệt độ tăng cao, lượng mưa và dòng chảy thiếu hụt. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long mực nước thấp nhất trong vòng 90 năm qua nên xâm nhập mặn đã xuất hiện sớm hơn so với cùng kỳ TBNN gần 2 tháng; phạm vi xâm nhập mặn vào đất liền sâu nhất lên đến hơn 90 km (). Hạn hán, xâm nhập mặn đã xảy ra gay gắt, gây thiệt hại nặng nề, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống nhân dân tại 18 tỉnh khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ. Đây là nguyên nhân chính làm ngành nông nghiệp bị tăng trưởng âm trong 6 tháng đầu năm.
  • Rét đậm, rét hại: Từ ngày 22/01/2016, các tỉnh miền Bắc đã xảy ra rét dậm, rét hại trên diện rộng, nhiều nơi đã xuất hiện băng giá và mưa tuyết trong đêm 23, ngày 24-25/01 như ở Mẫu Sơn (Lạng Sơn), Sa Pa (Lào Cai),... đặc biệt một số nơi rất hiếm khi có mưa tuyết đã xảy ra như ở Ba Vì (Hà Nội), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Mộc Châu (Hòa Bình), Kỳ Sơn (Nghệ An).
  • Nắng nóng: Số đợt nắng nóng trên diện rộng, xuất hiện nhiều trên nhiều vùng miền trong cả nước, tập trung vào các tháng 5 và 6, một số nơi tại Trung Bộ và Tây Nguyên nền nhiệt độ có đợt phổ biến từ 40-420C.
  • Bão đổ bộ vào khu vực đồng bằng Bắc Bộ: Trong năm đã có 02 cơn bão (bão số 1, số 3) đổ bộ vào khu vực đồng bằng Bắc Bộ, trong đó bão số 1 có hướng di chuyển phức tạp, khi vào gần bờ tiếp tục mạnh thêm, di chuyển chậm lại và thời gian duy trì gió mạnh, lốc xoáy kéo dài, kèm theo mưa lớn trên diện rộng gây ngập úng nghiêm trọng các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, đời sống nhân dân và đặc biệt làm thiệt hại nghiêm trọng cho hệ thống lưới điện tại tỉnh Nam Định.
  • Mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất ở khu vực miền núi phía Bắc: Năm 2016, tình hình lũ quét, sạt lở đất vẫn diễn ra nghiêm trọng, trên phạm vi của 14 tỉnh gây thiệt hại lớn về người và tài sản, đặc biệt là sạt lở đất sau bão số 3 xảy ra ở huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái; khu vực khai thác vàng huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai đã làm chết và mất tích nhiều người.
  • Mưa lũ ở khu vực miền Trung: Từ giữa tháng 10/2016 đến đầu tháng 12/2016, khu vực miền Trung và Tây Nguyên đã xảy ra liên tiếp 05 đợt mưa lũ lớn trên diện rộng với cường độ rất khốc liệt, tổng lượng mưa trong mỗi đợt tại nhiều nơi trên 1.000mm cường độ mưa một số nơi đạt trên 700mm/ngày đêm, làm lũ các sông lên cao ở mức BĐ3, có nơi trên BĐ3, nhiều khu vực xấp xỉ mức lũ lịch sử (lũ trên sông Ngàn Sâu và sông Gianh vượt BĐ3 từ 2-3m) và đặc biệt mưa lũ xảy ra liên tục, nhiều lần trên nhiều khu vực làm thiệt hại nghiêm trọng về người, sản xuất, hư hỏng nghiêm trọng công trình hạ tầng giao thông, thủy lợi.
  • Sạt lở bờ sông, bờ biển: Trong những năm gần đây và đặc biệt trong năm 2016, nhiều khu vực bờ sông, bờ biển, cửa sông tại các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Bình Thuận, Tiền Giang, Cà Mau,.. đã xảy ra sạt lở nghiêm trọng, uy hiếp trực tiếp đến tính mạng và tài sản của nhân dân (). Tình hình suy thoái lòng dẫn diễn biến hết sức phức tạp tại khu vực hạ du các hồ chứa lớn và lòng dẫn hệ thống sông khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
2. Tình hình thiệt hại
Tổng hợp báo cáo từ các địa phương, thiên tai trong năm 2016 đã làm 264 người chết và mất tích (); 5.431 nhà bị đổ, sập, trôi, 364.997 nhà bị ngập, hư hại, tốc mái; 828.661 ha diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại; hàng triệu mét khối đất đá giao thông, thủy lợi bị sạt lở, bồi lấp; 115km đê, kè, 938km kênh mương, 122km bờ sông, bờ biển bị sạt lở (),.... Tổng thiệt hại về kinh tế khoảng 39.726 tỷ đồng.
Thiệt hại do thiên tai gây ra đã làm sản xuất bị đình trệ, sức khỏe cộng đồng dân cư vùng thiên tai bị ảnh hưởng nghiêm trọng và là nguyên nhân chính làm ngành nông nghiệp bị tăng trưởng âm trong 6 tháng đầu năm dẫn đến làm giảm tăng trưởng quốc gia.
  1. KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI
Công tác phòng, chống thiên tai được triển khai quyết liệt, đồng bộ, kịp thời từ các khâu phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả nên đã hạn chế tối đa thiệt hại về người. Một số công việc chính đã triển khai thực hiện như sau:
  1. Về công tác phòng ngừa thiên tai
  • Tổ chức và triển khai kịp thời các nội dung kết luận tại Hội nghị tổng kết công tác phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn năm 2015, triển khai nhiệm vụ năm 2016; thực hiện kiện toàn và phân công nhiệm vụ Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các Bộ, ngành và các cấp ở địa phương.
  • Triển khai quyết liệt và đạt kết quả trong thi hành Luật Phòng, chống thiên tai: Ở Trung ương đã tổ chức xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ Chiến lược Quốc gia về phòng, chống thiên tai; xây dựng Kế hoạch quốc gia phòng, chống thiên tai; hướng dẫn phương án ứng phó thiên tai; ban hành Thông tư hướng dẫn lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội; ban hành tài liệu hướng dẫn “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chuẩn bị nhân lực, vật tư, trang thiết bị, nhu yếu phẩm phục vụ hoạt động phòng chống thiên tai”().
  • Lần đầu tiên đã thành lập và tổ chức 14 đoàn công tác liên ngành do Lãnh đạo và Ủy viên Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai làm trưởng đoàn đi kiểm tra, đôn đốc công tác phòng, chống thiên tai tại các địa phương trên cả nước.
- Các tỉnh, thành phố đã chủ động sử dụng ngân sách địa phương, quỹ phòng chống thiên tai và các nguồn lực khác để tổ chức tập huấn, diễn tập nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng, chống thiên tai; rà soát, xây dựng các phương án ứng phó với thiên tai theo phương châm “bốn tại chỗ”.
- Trong năm 2016, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Bộ, ngành, địa phương và 12 tổ chức phi chính phủ, nhà tài trợ đã tăng cường triển khai thực hiện Đề án “Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng” trên phạm vi toàn quốc,...()
  • Ngay từ đầu năm, đã chỉ đạo các địa phương điều chỉnh thời vụ, chuyển đổi sản xuất để thích ứng với tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn tại các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ; tổ chức kiểm tra, đánh giá, xây dựng các phương án đảm bảo an toàn đối với các trọng điểm xung yếu của hệ thống công trình đê điều, hồ đập; tổ chức diễn tập ở cấp tỉnh xử lý tình huống bất lợi đối với hệ thống liên hồ chứa; phát động phong trào thi đua xây dựng “đê kiểu mẫu”; tập huấn quản lý đê, quản lý công trình thủy lợi; hoàn thiện xây dựng phương án ứng phó với bão mạnh, siêu bão của 28 tỉnh/ thành phố ven biển để làm cơ sở cho các địa phương xây dựng phương án sơ tán dân do nước biển dâng trong tình huống bão mạnh, siêu bão.
  • Đã tích cực thực hiện nhiệm vụ bố trí dân cư vùng thiên tai (thực hiện Quyết định 1776/QĐ-TTg ngày 21/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ), kết quả trong giai đoạn 2013-2016 đã bố trí 262 dự án, ổn định được 33.866 hộ dân cư vùng thiên tai.
- Hội chữ thập đỏ, Hội phụ nữ,.. đã phối hợp tổ chức triển khai nhiều hoạt động tập huấn, hướng dẫn nâng cao nhận thức cộng đồng, thành lập đội xung kích tìm kiếm cứu nạn tại cơ sở,...
- Đang đẩy mạnh triển khai thực hiện các dự án ODA như dự án WB5, WB8,..., trong đó đang đầu tư nâng cấp 450 hồ/433 triệu USD.
- Tiếp tục xây dựng, củng cố, nâng cấp hệ thống các công trình phòng, chống thiên tai như đê điều; hồ đập; các khu neo đậu tàu thuyền; công trình thủy lợi nội đồng; hỗ trợ xây dựng nhà tránh lũ các tỉnh miền Trung ().
- Trước các đợt thiên tai, các cơ quan thông tin, truyền thông từ Trung ương đến cơ sở đều tăng cường thời lượng phát sóng, đưa tin để truyền tải thông tin về hướng dẫn các kỹ năng phòng ngừa, ứng phó và khắc phục thiên tai tới cộng đồng, ban hành bản tin thiên tai hàng tháng và “sách trắng” thiên tai năm 2016.
  1. Ứng phó:
Với tinh thần chủ động, quyết liệt từ lãnh đạo Trung ương đến địa phương nên đã triển khai kịp thời, hiệu quả các biện pháp ứng phó thiên tai. Khi có tình huống xảy ra, đã huy động cả bộ máy chính trị vào cuộc, phân công các đồng chí cấp ủy phụ trách các địa phương để chỉ đạo kịp thời, góp phần giảm thiểu thiệt hại nhất là đối với các đợt thiên tai lớn, cụ thể:
  • Lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã sát sao chỉ đạo công tác ứng phó và khắc phục hậu quả của các đợt thiên tai lớn: chủ trì 03 hội nghị về ứng phó hạn hán ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long; thành lập nhiều đoàn kiểm tra, chỉ đạo khắc phục hậu quả chống rét, lũ quét tại các tỉnh miền núi phía Bắc, bão, mưa lũ tại trung du, đồng bằng Bắc Bộ, lũ lớn tại toàn bộ các tỉnh miền Trung,... đặc biệt trong bão số 03, Thủ tướng Chính phủ đã cử 03 đoàn công tác do các Phó Thủ tướng Chính phủ làm trưởng đoàn đi chỉ đạo công tác ứng phó với bão tại các tỉnh ven biển Bắc Bộ.
  • Ban hành kịp thời 12 công điện của Thủ tướng Chính phủ, 44 công điện của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTT - Ủy ban Quốc gia tìm kiếm cứu nạn chỉ đạo ứng phó với các loại hình thiên tai; tổ chức 14 hội nghị, trong đó có 09 hội nghị trực tuyến chỉ đạo ứng phó với thiên tai; tổ chức họp các thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ giúp việc ứng phó với các trận thiên tai.
  • Thành lập các Đoàn công tác liên ngành (Nông nghiệp, Công Thương, Quân đội, Công an,...) trực tiếp chỉ đạo công tác ứng phó trong các trận thiên tai lớn tại các địa phương.
  • Công tác cứu hộ, cứu nạn đã được các lực lượng Quân đội, Công an triển khai kịp thời, hiệu quả góp phần đáng kể vào việc hạn chế thiệt hại về người và tài sản. Đặc biệt là trong công tác kêu gọi, hướng dẫn neo đậu tàu thuyền, sơ tán, di dời dân những khu vực xung yếu; hướng dẫn, kiểm soát giao thông khi thiên tai xảy ra,...()
  • Công tác dự báo, cảnh báo được cải tiến: Đã ban hành bản tin đặc biệt về tình hình Elnino và cảnh bảo hạn hán nghiêm trọng ngay từ cuối tháng tháng 8/2015 giúp cho việc triển khai sớm các biện pháp ứng phó; tổ chức quan trắc và cảnh báo xâm nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long,...
  • Tiếp tục đẩy mạnh việc sơ tán, di dời dân đến nơi an toàn trước khi thiên tai xảy ra nên đã giảm thiểu tối đa thiệt hại về người.
  • Chỉ đạo điều hành hợp lý quy trình vận hành xả lũ các hồ chứa thủy lợi, thủy điện  trong tình huống bất lợi mưa lũ rất lớn, liên tục, các hồ chứa đã tích đầy nước vào thời kỳ cuối vụ nhưng không để xảy ra sự cố và góp phần giảm ngập lụt cho hạ du.
  • Hợp tác quốc tế trong ứng phó với thiên tai được tăng cường, trong đó đã yêu cầu kịp thời để phía Trung Quốc xả nước hồ thủy điện trên thượng nguồn sông Mêkông hỗ trợ giảm xâm nhập mặn cho đồng bằng sông Cửu Long; các nước, vùng lãnh thổ tạo điều kiện cho ngư dân Việt Nam vào trú tránh bão và cứu hộ, cứu nạn trên biển.
  • Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các cơ quan thông tin đại chúng thường xuyên đưa tin, tăng cường thời lượng đưa tin về diễn biến thiên tai, các văn bản chỉ đạo, chỉ huy ứng phó trong các trận thiên tai lớn, đặc biệt là các bản tin phản ánh tình hình thiên tai thực tế trong các đợt hạn hán, bão lớn và 05 đợt mưa lũ tại miền Trung và Tây Nguyên.
  1. Khắc phục hậu quả:
  • Đã chủ động và tổ chức thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về công tác khắc phục hậu quả như: Tổ chức tìm kiếm người mất tích, cứu chữa người bị thương; tổ chức thăm hỏi, động viên các gia đình có người bị nạn và trích ngân sách địa phương để hỗ trợ theo quy định; dọn dẹp vệ sinh môi trường sau thiên tai, sớm khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, không để người dân bị đói, khát, bệnh tật.
  • Khắc phục nhanh các sự cố, hư hỏng về cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, nước sạch,.. đặc biệt là sự chỉ đạo quyết liệt khôi phục hệ thống lưới điện, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, điều chỉnh cơ cấu cây trồng, lịch gieo trồng sau bão số 1 nên đã góp phần rất lớn vào việc phục hồi sản xuất được trên 250.000 ha lúa của các tỉnh đồng bằng sông Hồng, ổn định nhanh đời sống của nhân dân sau thiên tai.
  • Đã khẩn trương, kịp thời trình Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ cho các địa phương. Đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã có các Quyết định hỗ trợ các địa phương bị thiệt hại do thiên tai với tổng kinh phí là 5.609 tỷ đồng (); 17.963 tấn gạo và 36,750 tấn lương khô cứu đói;  2.523 tấn lúa giống; 307 tấn ngô giống; 37,7 tấn hạt giống rau các loại và hàng ngàn cơ số thuốc, vắc xin, hóa chất khử trùng. Thủ tướng Chính phủ đang chỉ đạo đẩy nhanh dự án ODA hỗ trợ 04 tỉnh miền Trung thiệt hại nặng nề () 100 triệu USD để khắc phục, tái thiết sau thiên tai.
  • Một số tổ chức chính trị, xã hội đã tiếp nhận và phân bổ kinh phí, hàng cứu trợ ủng hộ nhân dân vùng bị hạn hán và lũ lụt, cụ thể: Mặt trận tổ quốc Việt Nam 448 tỷ đồng; Trung ương Hội Chữ thập đỏ 260,4 tỷ đồng, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh 13 tỷ đồng. Ngoài ra, các tổ chức Quốc tế đã hỗ trợ trên         16 triệu USD để khắc phục hạn hán, xâm nhập mặn.
  • Huy động các lực lượng, đặc biệt là lực lượng vũ trang, thanh niên để tổ chức khắc phục hậu quả vệ sinh môi trường, phun thuốc tiêu độc, khử trùng, xử lý nước sinh hoạt, cung cấp thuốc chữa bệnh, hóa chất để xử lý, kiểm soát dịch bệnh, cung cấp gạo, nước uống cho vùng thiên tai.
Với tinh thần chủ động phòng ngừa, ứng phó kịp thời khẩn trương, quyết liệt nên đã giảm thiểu tối đa các thiệt hại. Mặc dù phạm vi bị thiệt hại trong các đợt thiên tai rất lớn nhưng đã nhanh chóng ổn định đời sống, khôi phục sản xuất, kinh doanh nhất là sản xuất nông nghiệp, nhiều vùng đứng trước nguy cơ mất trắng, song đến nay đã có vụ mùa thắng lợi, các hoạt động xã hội trở lại bình thường.
  1. ĐÁNH GIÁ CHUNG
III.1. Về mặt được
1. Sự vào cuộc của toàn hệ thống chính trị, các Bộ ngành, địa phương, nhất là sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ khi xảy ra thiên tai nên đã giảm đáng kể thiệt hại về người và nhanh chóng khắc phục hậu quả.
2. Mặc dù tình hình thiên tai trong năm 2016 diễn biến hết sức khốc liệt, trên phạm vi nhiều vùng miền, nhưng công tác tham mưu chỉ đạo điều hành đã đáp ứng kịp thời, có hiệu quả nên đã góp phần giảm thiểu thiệt hại về người nhất là trên biển.
3. Thiệt hại về vật chất là rất lớn, song đã nhanh chóng khắc phục, tái thiết sớm ổn định đời sống và sản xuất sau thiên tai ()
4. Trong và sau thiên tai không để người dân bị đói, khát, bùng phát dịch bệnh sau thiên tai.
5. Việc phối hợp vận hành hồ chứa giữa chủ hồ và chính quyền địa phương đã từng bước thực hiện theo đúng quy trình, đã không để xảy ra sự cố hồ chứa mặc dù mưa lũ rất lớn, dồn dập vào thời kỳ tích nước cuối vụ, nhất là các hồ chứa thủy điện do EVN quản lý nên đã đảm bảo an toàn công trình và hạ du.
6. Huy động được nhiều nguồn lực để kịp thời hỗ trợ, khắc phục hậu quả thiên tai từ Trung ương đến địa phương, sự đóng góp, hỗ trợ của các tổ chức, các nhà hảo tâm và nhân dân trong cả nước,…
7. Bước đầu đã ứng dụng công nghệ tiên tiến trong theo dõi, chỉ đạo, vận hành công trình phòng chống thiên tai theo thời gian thực và trực tuyến.
8. Đài Truyền hình Việt Nam và các chương trình truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Trung ương và địa phương đã có những cải tiến, chuyển biến mạnh mẽ trong công tác cập nhật và truyền tải thông tin.
9. Đã phối hợp tốt với các quốc gia, tổ chức quốc tế hỗ trợ Việt Nam trong công tác phòng, chống thiên tai thông qua hợp tác ASEAN, hợp tác Mêkông, các dự án ODA, viện trợ không hoàn lại,...
III.2. Những tồn tại, hạn chế
Mặc dù công tác phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai đã đạt được nhiều kết quả, song vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như sau:
1. Hầu hết các cán bộ của Ban Chỉ đạo, Ban chỉ huy phòng chống thiên tai các cấp là kiêm nhiệm nên thời gian giành cho công tác phòng chống thiên tai rất hạn chế; cơ sở vật chất, trang thiết bị, công cụ hỗ trợ hoạt động của các cơ quan còn hạn chế, lực lượng làm công tác tham mưu từ Trung ương đến địa phương tính chuyên nghiệp chưa cao, nhiều tình huống thiên tai còn bị bất ngờ nên ứng phó chưa kịp thời.
2. Mặc dù đã giảm thiệt hại về người, song vẫn còn nhiều trường hợp chết do bất cẩn, thiếu kỹ năng ứng phó với thiên tai của nhiều bộ phận người dân. Thiệt hại về vật chất còn rất lớn nhất là lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, cơ sở hạ tầng, đời sống sức khỏe và môi trường.
3. Ô nhiễm môi trường sau thiên tai là rất lớn do gia súc, gia cầm chết bị thả trôi, chưa có biện pháp thu gom để xử lý kịp thời.
4. Nguồn lực hỗ trợ cho công tác phục hồi, tái thiết sau thiên tai còn rất hạn chế so với yêu cầu. Quy trình hỗ trợ thiệt hại sau thiên tai còn chậm trễ, chưa kịp thời.
5. Tiếp nhận, phân bổ hỗ trợ ở một số địa phương còn chưa được bài bản, kịp thời dẫn đến nảy sinh thắc mắc, khiếu nại đã được báo chí phản ánh.
6. Người dân vùng sâu, vùng xa chưa được nhận thông tin đầy đủ về diễn biến thiên tai; phương châm “bốn tại chỗ” nhiều nơi chuẩn bị còn mang tính hình thức.
7. Trang thiết bị cứu hộ cứu nạn còn thiếu, một số nơi còn chưa phù hợp, cần được tăng cường, bổ sung.
8. Một số quy trình vận hành liên hồ chứa còn chưa phù hợp, một vài hồ chứa khi điều tiết xả lũ vận hành chưa đúng quy trình đã làm gia tăng rủi ro cho công trình và hạ du.
9. Lồng ghép phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của Bộ, ngành và địa phương nhiều nơi chưa được quan tâm đúng mức và chưa có quy định đủ mạnh để giám sát, kiểm tra trong quá trình thực hiện. Hiện nay, số lượng công trình, dự án làm gia tăng nguy cơ rủi ro thiên tai ngày càng nhiều (hệ thống đường giao thông, các khu công nghiệp,..lấn chiến gây cản trở thoát lũ).
III.3. Những nguyên nhân chính và thách thức
1. Thiên tai ngày càng cực đoan, quy mô xã hội ngày càng lớn cả về dân số và nền kinh tế nên nguy cơ rủi ro thiên tai ngày càng gia tăng, đòi hỏi công tác phòng chống thiên tai phải nổ lực rất lớn mới đáp ứng yêu cầu.
2. Công tác dự báo, cảnh báo còn nhiều hạn chế và là khó khăn chung nhất là với các nước đang phát triển; các bản tin dự báo, cảnh báo chưa được cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu.
3. Tổ chức bộ máy phần lớn kiêm nhiệm, chưa chuyên nghiệp từ Trung ương đến địa phương, nguồn lực cán bộ còn thiếu và chưa được đào tạo bài bản dẫn đến công tác tham mưu hỗ trợ chỉ đạo điều hành chưa đạt hiệu quả cao.
4. Hầu hết trụ sở của cơ quan phòng chống thiên tai từ Trung ương đến các địa phương đều chật, hẹp, trang thiết bị chủ yếu là thiết bị văn phòng, chưa được trang bị đồng bộ thiết bị chuyên dụng, hiện đại để theo dõi, tiếp nhận, phân tích, tổng hợp, truyền tin phục vụ tham mưu chỉ đạo, chỉ huy.
5. Một số văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế chính sách còn nhiều bất cập, chưa phù hợp nên chưa huy động được tối đa các nguồn lực của xã hội;
6. Ý thức chấp hành luật pháp trong phòng chống thiên tai tại một số cơ quan, tổ chức và người dân còn chưa cao dẫn đến nguy cơ rủi ro thiên tai gia tăng.
7. Cơ sở hạ tầng đã từng bước được đầu tư, song chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiều hệ thống chưa được hoàn chỉnh nên hiệu quả chưa cao (hệ thống đê sông, đê biển, âu tránh trú bão cho tàu thuyền ())
8. Chưa thực hiện được công tác kiểm tra, giám sát trong quy hoạch, kế hoạch, đầu tư xây dựng công trình bảo đảm an toàn các trước thiên tai là nguyên nhân làm gia tăng rủi ro thiên tai (đường Quốc lộ 1, đường sắt Bắc Nam,  khu công nghiệp,....).
9. Truyền thông, đào tạo nâng cao năng lực cộng đồng còn chưa được thực hiện thường xuyên, bài bản và thiếu nguồn lực nên hiệu quả chưa cao ().
10. Việc xây dựng kế hoạch, phương án phòng chống thiên tai ở một số địa phương, bộ ngành còn chưa sát với thực tế, chưa kịp thời điều chỉnh, cập nhật và chưa xác định các kịch bản ứng phó phù hợp với các loại hình, tình huống thiên tai cực đoạn,...
  1. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Từ thực tiễn công tác phòng chống thiên tai, đặc biệt là trong ứng phó với hạn hán, xâm nhập mặn và mưa lũ lớn vừa qua, đã rút ra những bài học kinh nghiệm để phòng chống thiên tai ngày càng hiệu quả hơn. Đó là:
  1. Công tác phòng, chống thiên tai phải lấy phòng ngừa là chính, dựa vào nhân dân là chính, chính quyền cơ sở là chính. Đầu tư trong giai đoạn phòng ngừa sẽ mang lại hiệu quả cao hơn rất nhiều so với giai đoạn ứng phó, khắc phục hậu quả.
  2. Phòng chống thiên tai cần sự vào cuộc của toàn hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu Chính phủ đối với tình huống thiên tai từ cấp độ 3 trở lên.
  3. Nắm chắc diễn biến, có kinh nghiệm, bình tĩnh ứng phó kịp thời, chính xác, ứng dụng khoa học công nghệ phù hợp sẽ giảm thiểu thiệt hại ().
  4. Kỹ năng phòng, chống thiên tai nhất là các kỹ năng liên quan đến nước và chuẩn bị tốt theo phương châm “bốn tại chỗ” tại cộng đồng là rất quan trọng sẽ hạn chế thiệt hại về người và tài sản.
  5. Công tác dự báo kịp thời, chính xác, cụ thể và thông tin sâu rộng đến các cơ quan chức năng, người dân nhất là ở thôn, xã, vùng sâu, vùng xa sẽ chủ động ứng phó kịp thời, giảm thiểu thiệt hại.
  6. Đối phó với thiên tai là công việc phức tạp, nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng và tài sản, có thể dẫn tới thảm họa. Vì vậy, cần xây dựng lực lượng chuyên nghiệp để ngoài việc đáp ứng các nhiệm vụ nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả mà còn sẽ hạn chế lực lượng cần huy động và giảm kinh phí cho công tác phòng chống thiên tai.
  7. Khi không quan tâm lồng ghép phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch, đầu tư xây dựng,... sẽ làm gia tăng nguy cơ rủi ro thiên tai cho xã hội và sẽ phải trả giá lớn cho các hoạt hoạt động này.
  8. Lực lượng ứng phó và trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn cần được bố trí sẵn sàng tại các khu vực trọng điểm, có nguy cơ cao để đáp ứng kịp thời xử lý nhanh các tình huống thiên tai.
  9. Vai trò của các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội là rất quan trọng trong phòng chống thiên tai như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ, Hội Cựu Chiến binh, Hội Phụ nữ, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư.



PHẦN II
TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI
NHỮNG THÁNG TIẾP THEO NĂM 2017


I. NHỮNG NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM
Ngay từ đầu năm 2017, tình hình thời tiết đã và đang có nhiều diễn biến bất thường, trái quy luật. Chúng ta vừa trải qua mùa Đông ấm, nhiều đợt không khí lạnh và mưa phùn ảnh hưởng sâu vào khu vực miền Trung và Nam Trung Bộ, đã và đang làm cho dịch bệnh phát triển, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người dân, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi, sạt lở nghiêm trọng bờ biển,... Theo nhận định của Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Trung ương, tình hình thời tiết những tháng tiếp theo trong năm 2017 còn diễn biến phức tạp: nền nhiệt độ cao hơn trung bình nhiều năm; mưa lũ diễn biến bất thường và ở mức cao, bão hoạt động sớm ở biển Đông và ảnh hưởng đến đất liền tương đương trung bình nhiều năm,…()
Để sẵn sàng chủ động ứng phó với các tình huống thiên tai có thể xảy ra, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản, sức khoẻ, các hoạt động kinh tế xã hội, góp phần phát triển bền vững đất nước, năm 2017 cần tập trung triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm chính sau:
1. Tăng cường, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai, Ban chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các Bộ, ngành và địa phương để đảm bảo việc sẵn sàng công tác chỉ đạo, chỉ huy từ phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả và tái thiết được chủ động, nhanh chóng, chính xác, hiệu quả nhất là đối với các địa bàn, lĩnh vực được phân công phụ trách.
2. Kiện toàn tổ chức bộ máy phòng chống thiên tai, trong đó khẩn trương hoàn thiện tổ chức Tổng cục Phòng chống thiên tai để đưa vào hoạt động trước mùa mưa bão năm 2017; đề xuất tổ chức chuyên trách tại địa phương đảm bảo tính đồng bộ, tinh gọn, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công tác phòng chống thiên tai ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường.
3. Nâng cao năng lực, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho lực lượng tham mưu chỉ đạo, hỗ trợ ra quyết định cho Ban Chỉ đạo, Ban chỉ huy các Bộ, ngành, địa phương các cấp đảm bảo tính chuyên nghiệp, luôn luôn sẵn sàng tham mưu chính xác, kịp thời với các tình huống thiên tai có thể xảy ra để ứng phó với thiên tai một cách hiệu quả nhất.
4. Ban hành và đẩy mạnh triển khai thực hiện chiến lược, kế hoạch quốc gia phòng chống thiên tai, kế hoạch phòng chống thiên tai của các Bộ, ngành, địa phương; phương án ứng phó tương ứng với cấp độ rủi ro thiên tai; lồng ghép phòng chống thiên tai trong kế hoạch phát triển ngành và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương; thu quỹ phòng chống thiên tai. Thực hiện và kiểm soát việc xây dựng cơ sở hạ tầng làm gia tăng nguy cơ rủi ro thiên tai, kiểm soát lồng ghép công tác phòng chống thiên tai vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của các địa phương, các bộ, ngành coi đây là nhiệm vụ trọng tâm góp phần giảm nhẹ rủi ro thiên tai.
5. Bổ sung cơ chế chính sách để huy động nguồn lực trong xã hội, dịch vụ công tham gia vào công tác phòng chống thiên tai; tiêu chuẩn, quy chuẩn, chế tài để giám sát các hoạt động của xã hội đảm bảo an toàn hơn trước thiên tai. Thành lập quỹ phòng chống thiên tai Quốc gia; chuẩn bị đủ nguồn lực, nhu yếu phẩm phù hợp; nâng cấp, hiện đại hoá trang thiết bị, cơ sở vật chất, sẵn sàng ứng phó với các tình huống thiên tai. Điều chỉnh quy trình hỗ trợ thiệt hại sau thiên tai đáp ứng yêu cầu nhanh chóng ổn định đời sống, sản xuất, môi trường, cơ sở hạ tầng.
6. Tổ chức kiểm tra, đánh giá thực trạng, tăng cường bố trí nguồn vốn đầu tư và các giải pháp đảm bảo an toàn công trình phòng chống thiên tai nhất là hệ thống dự báo, cảnh báo, đê điều, hồ đập; đảm bảo an toàn khu dân cư và các trung tâm kinh tế, chính trị và các công trình trọng điểm, công trình đang thi công.
7. Đẩy mạnh việc đào tạo nâng cao năng lực cho lực lượng làm công tác phòng chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn cho cộng đồng trong đó tăng cường diễn tập; phối hợp các tổ chức, đoàn thể chính trị xã hội hướng dẫn nâng cao kỹ năng đối phó thiên tai nhất là hướng dẫn tập bơi và phòng chống đuối nước.
8. Rà soát hệ thống truyền tin, thông tin liên lạc, ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức phòng chống thiên tai, thông tin kịp thời tới các địa phương, tổ chức, người dân trong vùng thiên tai về diễn biến thiên tai, giải pháp ứng phó, nhất là thông tin tới người dân vùng sâu, vùng xa, vùng thường xuyên xảy ra thiên tai.
9. Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong xây dựng cơ sở dữ liệu, hoạt động theo dõi, giám sát, phòng ngừa, ứng phó, chỉ đạo điều hành phòng chống thiên tai; năm 2017 bắt đầu thực hiện điều hành ứng phó theo thời gian thực và trực tuyến với các công trình trọng điểm, các địa phương và các vùng thường xuyên xảy ra thiên tai.
10. Phối kết hợp với các quốc gia trên thế giới trong công tác dự báo, xây dựng công trình, trong đó đặc biệt quan tâm tới các nước thượng nguồn sông Hồng, sông Mêkông nhằm chủ động trong sử dụng nguồn nước, ứng phó với thiên tai; phối hợp với các nước, vùng lãnh thổ có hoạt động kinh tế liên quan đến biển Đông trong ứng phó với bão, cứu hộ cứu nạn và kêu gọi các nguồn lực hỗ trợ cho công tác phòng chống thiên tai.
II. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
Để triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm trên, Ban Chỉ đạo trung ương về phòng chống thiên tai kiến nghị và đề xuất như sau:
1. Các thành viên Ban Chỉ đạo giành thời gian để triển khai thực hiện kế hoạch công tác của Ban Chỉ đạo; chủ động triển khai đối với lĩnh vực được phân công, trong đó đặc biệt tăng cường chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra nội dung lồng ghép phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế - xã hội của các địa phương.
2. Đối với các Bộ, ngành và địa phương:
- Tổ chức xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch phòng chống thiên tai; phương án ứng phó tương ứng với cấp độ rủi ro thiên tai; thành lập, thu quỹ phòng chống thiên tai và sử dụng đúng mục đích, trong đó ưu tiên cho công tác tập huấn, đào tạo, diễn tập nâng cao năng lực, kỹ năng ứng phó thiên tai của cộng đồng và hoàn thiện các phương án theo phương châm “bốn tại chỗ”.
- Tổ chức triển khai sâu rộng việc lồng ghép nội dung phòng, chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đặc biệt là các quy hoạch, kế hoạch chịu tác động mạnh bởi các thiên tai lớn, phạm vi rộng như bão, lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn.
- Khẩn trương tổ chức tổng kết công tác phòng chống thiên tai năm 2016, triển khai kế hoạch năm 2017 phù hợp tình hình thiên tai và đặc điểm của Bộ, ngành và địa phương.
- Triển khai ngay việc rà soát công trình phòng chống thiên tai, khu dân cư, vùng kinh tế trọng điểm, cơ sở hạ tầng bị ảnh hưởng hoặc tăng nguy cơ rủi ro thiên tai, công trình đang thi công để chỉ đạo, xây dựng phương án, bố trí vật tư, nhân lựctổ chức xử lý đảm bảo an toàn trước mùa mưa lũ năm 2017; phát hiện, xử lý kịp thời giờ đầu các sự cố công trình phòng chống thiên tai, đê điều, thủy lợi.  
- Chỉ đạo việc đề xuất hỗ trợ ứng phó khẩn cấp đúng theo quy định của Chính phủ đã ban hành; rà soát, xây dựng thực hiện kế hoạch di dời dân vùng có nguy cơ cao rủi ro thiên tai; chuyển đổi sản xuất cho phù hợp với đặc điểm tự nhiên của khu vực và tình hình thiên tai.
- Tăng cường trang thiết bị, nâng cao cơ sở vật chất, xây dựng lực lượng chuyên nghiệp cho cơ quan tham mưu chỉ huy phòng chống thiên, trong đó ưu tiên chỉ đạo, đầu tư xây dựng hệ thống kết nối trực tuyến phục vụ công tác phòng chống thiên tai tại Văn phòng thường trực Ban chỉ huy cấp tỉnh.
- Các địa phương phối hợp với Bộ, ngành rà soát, đánh giá quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa; tổ chức kiểm tra, kiểm định, đánh giá các công trình đê điều, thủy lợi xung yếu, công trình đang thi công để có giải pháp xử lý đảm bảo an toàn công trình trước mùa mưa lũ năm 2017; xây dựng phương án điều tiết nước hồ chức hợp lý để vận hành đảm bảo an toàn công trình, hạ du trong mùa lũ và tích nước tối đa phục vụ chống hạn trong mùa kiệt
- Đề xuất hỗ trợ ứng phó khẩn cấp đúng theo quy định của Chính phủ đã ban hành; rà soát kế hoạch sơ tán dân; chuyển đổi sản xuất cho phù hợp với tình hình thiên tai.
- Đẩy mạnh việc sử dụng công nghệ để hỗ trợ ra quyết định chỉ đạo điều hành được kịp thời, chính xác và hiệu quả nhằm giảm thiểu tác động của thiên tai, đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của nhà nước và nhân dân.
2. Đối với Chính phủ:
- Chỉ đạo và giao nhiệm vụ cho Bộ, ngành, địa phương kiện toàn bộ máy phòng chống thiên tai từ Trung ương đến địa phương theo hướng chuyên nghiệp để đáp ứng được các yêu cầu nhiệm vụ hiện nay.
- Cho điều chỉnh quy trình tiếp nhận hỗ trợ của các tổ chức quốc tế; rút gọn quy trình và tăng cường nguồn vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ khẩn cấp cho công tác phòng chống thiên tai;
- Chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện lồng ghép phòng chống thiên tai vào quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kinh tế- xã hội của các địa phương, đặc biệt là việc kiểm soát xây dựng cơ sở hạ tầng làm gia tăng nguy cơ rủi ro thiên tai.
- Giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với các bộ, ngành, địa phương ưu tiên nguồn lực phát triển các ứng dụng khoa học vào thực tiễn phòng chống thiên tai, nhất là cho lĩnh vực giám sát thiên tai và giải pháp xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển.
- Giao Bộ Tài nguyên và môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương rà soát điều chỉnh các quy trình vận hành liên hồ chứa đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, trong đó đặc biệt cần làm rõ các tình huống điều hành thuộc trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương và các điều kiện đảm bảo để thực hiện quy trình (các thông tin dự báo, cảnh báo, quan trắc phía thượng lưu, hạ lưu đập, hệ thống camera giám sát,…).
- Giao Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống thiên tai chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra và tổng hợp kết quả thực hiện của các Bộ, ngành và địa phương báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Ban Chỉ đạo trung ương về phòng chống thiên tai chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ đạo, điều hành sâu sát của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành Trung ương, địa phương và các tổ chức, đoàn thể; sự nỗ lực, đóng góp của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm việc trong lĩnh vực liên quan đến phòng chống thiên tai vào việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2016 và mong muốn tất cả các cấp, các ngành và người dân chung sức để hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của năm 2017 và những năm tiếp theo góp phần giảm thiểu tối đa thiệt hại về người và tài sản, thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước./.

BAN CHỈ ĐẠO TRUNG ƯƠNG VỀ PCTT


*********************************************************************************


TRUNG TÂM
KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN QUỐC GIA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc
TRUNG TÂM DỰ BÁO
KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN TRUNG ƯƠNG


Hà Nội,  ngày 11 tháng 4 năm 2017


BÁO CÁO DIỄN BIẾN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN NỔI BẬT
NĂM 2016 VÀ NHẬN ĐỊNH XU THẾ NĂM 2017


1. Diễn biến KTTV nổi bật năm 2016 và những tháng đầu năm 2017
Tóm tắt: Hiện tượng El Nino mạnh và kéo dài kỷ lục từ cuối năm 2014 chấm dứt vào giữa năm 2016 và ENSO chuyển sang trạng thái trung tính, thiên về pha lạnh nhưng vẫn chưa đạt đầy đủ chỉ tiêu của một kỳ La Nina vào cuối năm 2016 (ngoại trừ đánh giá của cơ quan Dự báo khí hậu Hoa Kỳ xác định đạt chỉ tiêu La Nina yếu) dẫn đến xuất hiện hạn hán, xâm nhập mặn khốc liệt ở Nam Bộ, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ vào đầu năm 2016. Tuy nhiên, mưa tuyết lần đầu xuất hiện ở nhiều nơi thuộc Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ vào đầu năm 2016. Bão, áp thấp nhiệt đới hoạt động muộn nhưng nhiều hơn hẳn trung bình nhiều năm. Mưa, lũ kỷ lục và có diễn biến phức tạp, đặc biệt là ở Trung Bộ vào cuối năm 2016. Hạn hán, xâm nhập mặn không gay gắt ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ trong mùa khô năm 2016/2017.
1.1. Bão, áp thấp nhiệt đới
Tuy mùa bão bắt đầu muộn nhưng tính đến cuối năm 2016 đã có 10 cơn bão và 7 ATNĐ hoạt động trên Biển Đông (Hình 1), nhiều hơn hẳn so với trung bình nhiều năm (TBNN), trong đó có 4 cơn bão (bão số 1, 3, 4, 7) và 2 ATNĐ ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta. Các cơn bão có xu hướng hoạt động trái quy luật và ảnh hưởng trực tiếp đến các tỉnh miền Bắc là tương đối nhiều, thậm chí cơn bão số 07 (Sarika) hoạt động trong tháng 10 vẫn có xu hướng di chuyển lệch Bắc, hướng về Vịnh Bắc Bộ và đổ bộ vào khu vực phía Đông Móng Cái (Quảng Ninh).
Hình 1. Đường đi của bão và ATNĐ trên Biển Đông trong năm 2016
1
1.2. Không khí lạnh và rét đậm, rét hại
Trong năm 2016, đã xảy ra 24 đợt không khí lạnh (KKL), bao gồm 16 đợt gió mùa Đông Bắc và 08 đợt KKL tăng cường ảnh hưởng đến nước ta. KKL gây ra 05 đợt rét đậm, rét hại  (Bảng 1) với tổng số 21 ngày rét đậm, rét hại trên diện rộng, vùng núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã xuất hiện mưa tuyết, băng giá. Đợt KKL mạnh ngày 21/01 đã gây ra nhiệt độ thấp nhất kỷ lục trong 40 năm gần đây cho khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ.
Đến những tháng cuối năm 2016 đến đầu năm 2017, KKL hoạt động với tần suất ít hơn TBNN và cường độ không mạnh, không kéo dài do vậy làm cho nhiệt độ trung bình trong các tháng chính mùa đông (từ tháng 12/2016 đến tháng 2/2017) cao hơn TBNN từ 1-2 độ C, đặc biệt ở khu vực miền Bắc cao hơn tới trên 3 độ C. Đáng chú ý, mùa đông xuân năm 2016-2017 không xảy ra rét đậm, rét hại trên diện rộng, chỉ xuất hiện cục bộ một số nơi ở khu vực vùng núi phía bắc và không kéo dài.
Bảng 1. Các đợt rét đậm, rét hại trong năm 2016
TT
Ngày/tháng
Nhiệt độ trung bình ngày phổ biến
Nhiệt độ trung bình ngày thấp nhất ở một số nơi
1
23-28/01
80C-110C
Pha Đin -2,60C, Sa Pa -3,10C, Mẫu Sơn -4,00C, Đồng Văn 0,20C
2
01-05/02
120C-140C
Sapa 3,60C, Đồng Văn 5,60C, Trùng Khánh 6,10C,
3
07-09/02
120C-140C
Sìn Hồ 6,40C, Sa Pa 6,40C, Trùng Khánh 9,10C
4
15-17/02
120C-140C
Sa Pa 4,10C,  Mẫu Sơn 2,80C, Hà Đông 14,20C
5
24-27/02
120C-140C
Sa Pa 5,50C, Đồng Văn 6,80C, Mẫu Sơn 3,10C
Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 2016 trên toàn quốc phổ biến cao hơn TBNN từ 0,5-1,5oC, đặc biệt trong tháng 10 và tháng 12 chuẩn sai nhiệt độ trung bình tại khu vực Bắc Bộ và Trung Bộ phổ biến từ 1,5-3,0oC so với TBNN cùng thời kỳ (Hình 2).
1.3. Nắng nóng diện rộng
Trong năm đã có 23 đợt nắng nóng trên diện rộng, nhiều hơn so với TBNN cùng thời kỳ. Các đợt nắng nóng tập trung nhiều trong các tháng 5 và 6 (Bảng 2), đây cũng là thời kỳ có nền nhiệt cao nhất trong năm (nhiệt độ cao nhất trong năm xảy ra tại Tương Dương (Nghệ An) vào ngày 15/4/2016 là 41,8 độ C). Một đặc điểm nổi bật trong năm 2016 là nắng nóng không gay gắt, xuất hiện nhiều đợt nắng nóng nhưng thời gian của mỗi đợt lại không kéo dài. Đợt nắng nóng diện rộng đầu tiên của năm 2017 diễn ra trên khu vực Tây Bắc Bộ, các tỉnh từ Thanh Hóa đến Phú Yên từ ngày 9-11/04 với nhiệt độ cao nhất phổ biến 35-38 độ, có nơi 39-40 độ.
Bảng 2. Phân bố số ngày nắng nóng theo tháng trong năm 2016.
   Khu vực

Tháng
Tây
Bắc Bộ
Đông Bắc Bộ
Bắc    Trung Bộ
Trung    Trung Bộ
Nam   Trung Bộ
Tây Nguyên
Nam Bộ
Miền Đông
Miền Tây
1






6

2






3

3





7
18

4
3

3
10
10
16
30
19
5
7
2
15
17
11
3
20
15
6
11
14
16
18
14



7
13
13
19
14
10



8
10
10
6
12
14



9
3
3
2
4
6



Tổng
47
42
62
75
65
26
77
34


Hình 2. Nhiệt độ trung bình và chuẩn sai năm 2016
TbTemp_2016
Cstemp_2016
1.4. Lượng mưa và mưa lớn diện rộng
Năm 2016 đã xảy ra 22 đợt mưa lớn diện rộng, ít hơn so với TBNN. Trong đó có 01 đợt mưa lớn diện rộng trái mùa trên khu vực các tỉnh Bắc Bộ vào những ngày cuối tháng 01/2016. Mưa lớn dồn dập với tổng lượng mưa xảy ra trên khu vực các tỉnh Trung Bộ vào các tháng cuối năm gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế. Đặc biệt từ ngày 13-16/10, do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới kết hợp với không khí lạnh, tại các tỉnh từ Nghệ An đến Thừa Thiên Huế đã có mưa rất to, riêng tại Hà Tĩnh và Quảng Bình đã có mưa đặc biệt lớn như: Chợ Tràng (Nghệ An): 506mm; Tp. Hà Tĩnh: 932mm; Ba Đồn (Quảng Bình): 835mm; Tp. Đồng Hới: 1053mm; Mai Hóa: 945mm; Lệ Thủy: 850mm; Minh Hóa (Q.Bình): 816mm;…Cường suất mưa lớn nhất đạt 500mm/6h và 747mm/24h tại Quảng Bình, lớn nhất trong chuỗi số liệu quan trắc được.
Năm 2016, mùa mưa xảy ra sớm hơn so với quy luật tại khu vực Bắc Bộ, đến muộn hơn ở khu vực Tây Nguyên, Nam Bộ và phù hợp với quy luật tại khu vực Trung Bộ. Tuy nhiên, mùa mưa lại kết thúc muộn hơn so với TBNN tại khu vực từ Trung Bộ trở vào phía nam. Tại khu vực Trung Bộ, một số nơi ở Tây Nguyên và Nam Bộ có tổng lượng mưa cả năm phổ biến cao hơn so với TBNN (Hình 3).
Hình 3. Bản đồ phân bố tổng lượng mưa năm 2016
Rain_2016
CsRain_2016
Trong tháng 01/2017 xuất hiện một đợt mưa trái mùa ở Bắc Bộ (từ ngày 10 - 13/01), tổng lượng mưa phổ biến từ 70-120mm, có nơi xấp xỉ 200mm và cao hơn gấp 4-6 lần so với TBNN. Khu vực Trung Bộ tiếp tục có  tổng lượng mưa (TLM) cao hơn so với TBNN, TLM tháng 01/2017 tại khu vực Trung và Nam Trung Bộ phổ biến cao hơn từ 100-300%. Đặc biệt tại khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ trong tháng 01 và tháng 02/2017 xuất hiện 02 đợt mưa trái mùa (từ ngày 14 - 16/01 và từ ngày 02 - 3/02/2017), đáng chú ý là đợt mưa đầu tháng 02/2017 tổng lượng mưa phổ biến từ 20-50mm, cá biệt tại Thủ Dầu Một (Bình Dương) và Trà Nóc (Cần Thơ) có lượng mưa trên 100mm, do mưa trái mùa làm cho tổng lượng mưa tháng cao gấp nhiều lần so với TBNN cùng thời kỳ (Hình 4).
Từ cuối tháng 3 và đầu tháng 4/2017, mưa chuyển mùa đã xuất hiện trên diện rộng ở khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ.


Hình 4: Bản đồ tỷ chuẩn lượng mưa (%) tháng 01 (trái) và tháng 02/2017 (phải)
1.5. Dông, sét, tố, lốc xoáy, mưa đá
Trong năm 2016, đã có 13 lần xuất hiện mưa đá tại các tỉnh: Hà Giang, Lào Cai, Sơn La, T.p Sa Pa, Tuyên Quang, Điện Biên, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Đà Lạt, Đồng Nai, Đắk Lắk; lốc xoáy xảy ra 13 lần tập trung từ tháng 4 đến tháng 8, riêng trong tháng 6 đã có hiện tượng thời tiết nguy hiểm đặc biệt ít xảy ra tại Việt Nam là vòi rồng với tần suất 2 lần vào lúc 9h sáng và 13h30 chiều ngày 05/6/2016 ở đảo Cô Tô (Quảng Ninh).
Những tháng đầu năm 2017 lốc xoáy mưa đá đã xuất hiện ở nhiều địa phương, cụ thể ngày 3/2 xuất hiện mưa đá tại đỉnh Fansipan; ngày 18-19/3 mưa đá và lốc xoáy xuất hiện ở Mường Lay (tỉnh Điện Biên) và địa bàn giáp ranh của huyện Nậm Nhùn (tỉnh Lai Châu) và khu vực Như Thanh (tỉnh Thanh Hóa), Tương Dương (tỉnh Nghệ An); từ ngày 17 đến ngày 25/3liên tiếp xuất hiện mưa đá và lốc xoáy tại Bảo Hà, Sa Pa, Bát Xát, Văn Bàn (tỉnh Lào Cai).
1.6. Thủy văn Bắc Bộ
Trong tháng 1 và 2/2016, hệ thống hồ chứa lớn Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang đã thực hiện tăng cường cấp nước phục vụ đổ ải vụ Đông Xuân 2015-2016. Thời gian tăng cường cấp nước tổng cộng là 10 ngày (rút ngắn 9,5 ngày so với dự kiến), cụ thể như sau: Đợt 1 từ ngày 21/1 đến 25/1; Đợt 2: không thực hiện; Đợt 3 từ 16/2 đến 20/2/2016.
Mực nước hạ du sông Hồng tại Hà Nội đã dao động mạnh trong 3 đợt xả nước gia tăng, mực nước trung bình đều đạt từ 2,2-2,3m. Tổng lượng xả của các hồ chứa thủy điện trong Đợt 1 là 1,52 tỷ m3, Đợt 3 là 1,51 tỷ m3; tổng cộng 2 Đợt là 3,03 tỷ  m3 nước, giảm so với năm 2015 là 2,04 tỷ m3.
Nguồn dòng chảy từ lãnh thổ Trung Quốc chảy đến thượng lưu sông Đà dao động mạnh. Lũ bất thường đã xuất hiện tại hồ Lai Châu (tháng 01,02, 3, 6, 9,11/2016) và tại Lào Cai (tháng 9,11/2016).Mùa lũ chính vụ trên các sông Bắc Bộ xuất hiện muộn. Lũ lớn vượt mức BĐ 3 xuất hiện trên trên sông Thao tại Yên Bái. Trong tháng 11/2016, lũ trái mùa xảy ra trên thượng lưu sông Đà và sông Thao. Mực nước đỉnh lũ trên sông Thao tại Lào Cai dưới BĐ 1: 0,87m, lớn nhất cùng kỳ trong 3 năm gần đây; tại Yên Bái dưới BĐ 1: 0,87m, lớn nhất cùng kỳ trong 8 năm gần đây.
Mực nước thấp nhất trong chuỗi quan trắc cùng thời kỳ từ năm 1960 đã xuất hiện trên sông Lô tại trạm Tuyên Quang liên tiếp trong các tháng 02,4,8, 9,10,11 và tháng 12/2016, tại Vụ Quang trong tháng 10 và 11/2016; hạ lưu sông Hồng tại Hà Nội tháng 10, 11/2016; hạ lưu sông Thái Bình tại Phả Lại tháng 10/2016.
Dòng chảy trên các sông suối thượng lưu so với trung bình nhiều năm (TBNN) từ tháng 1-5/2016 phổ biến xấp xỉ hoặc lớn hơn TBNN do sự điều tiết của thủy điện thượng nguồn; từ tháng 6-10/2016 nhỏ hơn từ 10-50%, thiếu hụt nhiều nhất trên lưu vực sông Gâm tại hồ Tuyên Quang. Lượng mưa trong tháng 11-12/2016 phổ biến thiếu hụt từ 10-40%, riêng thượng lưu sông Đà vượt từ 20-50%.
Lũ quét gây thiệt hại nghiêm trọng đã xảy ra tại Lào Cai (2 lần trong tháng 8), Yên Bái, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hà Giang trong tháng 7 và tháng 8. Sạt lở đất đã tại nhiều tỉnh như: Hòa Bình, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Phú Thọ, Sơn La, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Thái Nguyên trong tháng 8 và 9. Ngập úng nghiêm trọng đã xảy ra tại các đô thị và thành phố như: Hà Nội (24-25/5), Thái Nguyên, Cẩm Phả, Hạ Long và khu vực Hòn Gai, Bãi Cháy (Quảng Ninh) ngày 6/7; thành phố Yên Bái, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Sơn La (ngày 20-21/8).
Lũ trái mùa đã xuất hiện trên sông Đà, sông Thao, sông Chảy và sông Gâm (10-12/01/2017), biên độ lũ lên từ 1,5-3m. Lưu lượng đỉnh lũ đến hồ Tuyên Quang đạt mức 730 m3/s ngày 12/01/2017 và Thác Bà ở mức 415 m3/s ngày 12/01/2017), đạt giá trị lớn nhất cùng kỳ.
Mực nước thấp nhất trong chuỗi quan trắc cùng kỳ đã xuất hiện trên sông Lô tại trạm Tuyên Quang liên tiếp trong tháng 01,02 và 03/2017.
1.7. Thủy văn Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ
Trong những tháng đầu mùa khô 2015-2016, mực nước các sông ở khu vực Trung Bộ biến đổi chậm và giảm dần. Mực nước tại một số trạm đã xuống mức thấp nhất lịch sử trong chuỗi số liệu quan trắc như: Sông Mã tại Lý Nhân, sông Cái Nha Trang tại Đồng Trăng, sông Ba tại Ayunpa, sông Đăkbla tại Konplong, Kon Tum, sông Srêpôk tại Giang Sơn, Cầu 14, sông La Ngà tại Đại Nga. Lượng dòng chảy trên phần lớn các sông chính thiếu hụt so với TBNN từ 30-60%, một số sông ở Nam Trung Bộ thiếu hụt 80-95%. Tình trạng khô hạn thiếu nước đã xảy ra gay gắt ở các tỉnh: Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, KonTum, Gia Lai và ĐắkLắk.
Lũ tiểu mãn xuất hiện đúng chu kỳ (từ ngày 23-25/5/2016) trên sông Bưởi và thượng nguồn sông Mã với biên độ lũ lên từ 1,5-3,5m.
Từ tháng 6 đến cuối năm 2016, trên các sông Trung Bộ và khu vực Tây Nguyên đã xuất hiện 16 đợt lũ. Trong đó có 10 đợt lũ xảy ra trên diện rộng và 6 đợt xảy ra cục bộ trên một vài sông.
Đợt lũ từ ngày 13-17/10 trên sông Ngàn Sâu (Hà Tĩnh) và các sông ở Quảng Bình thuộc loại đặc biệt lớn, đỉnh lũ trên sông Ngàn Sâu tại Chu Lễ thấp hơn lũ lịch sử năm 2010 là 0,92m; sông Gianh tại Mai Hóa thấp hơn lũ lịch sử năm 2007 là 0,27m, sông Kiến Giang tại Lệ Thủy thấp hơn lũ lịch sử năm 1979 là 0,38m.
Từ ngày 30/10-9/11/2016 và 12-17/12/2016, mưa lớn diện rộng kết hợp với xả điều tiết của các hồ chứa tiếp tục gây ra lũ đặc biệt lớn tại các tỉnh từ Thừa Thiên Huế đến Ninh Thuận và Gia Lai, đỉnh lũ trên các sông phổ biến ở mức BĐ3 và cao hơn BĐ3 từ 0,5-1,5m; mực nước trên sông Vệ (QuảngNgãi), sông Kôn (Bình Định) đã đạt xấp xỉ mức lũ lịch sử năm 2013.
Lũ lớn, lũ quét và sạt lở đất, ngập lụt diện rộnggây nhiều thiệt hại về tài sản và tính mạng của nhân dân ở Trung Bộ và Tây Nguyên đặc biệt là trận lũ quét xảy ra tại huyện Như Xuân (Thanh Hóa), Quỳ Châu (Nghệ An) ngày 14/9; ngập lụt đã xảy ra trên hầu hết các tỉnh thuộc ở Trung Bộ và Tây Nguyên, đặc biệt nghiêm trọng tại các tỉnh  Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa và Gia Lai.
Mùa khô năm 2016, dòng chảy từ thượng lưu sông Mê Công về đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ đầu mùa đã xuống mức rất thấp và ở mức thấp lịch sử. Tiếp đó, trong các tháng mùa khô lượng mưa liên tục thiếu hụt từ 20-50% so với TBNN, nhiều tỉnh ở Nam Bộ cho đến hết tháng 04/2016 hầu như không có mưa. Do vậy, tình trạng thiếu nước và xâm nhập mặn đã xảy ra trên diện rộng ở khu vực Nam Bộ và diễn ra sớm, lấn sâu hơn so với cùng thời kỳ năm 2015.
Độ mặn từ đầu năm 2016 tại hầu hết các trạm luôn ở mức cao hơn cùng kỳ năm 2015 và TBNN. Độ mặn cao nhất trên các sông ở Nam Bộ phổ biến xuất hiện vào cuối tháng 3 và ở mức lớn hơn từ 1,0-7,0g/l so với cùng kỳ năm 2015. Riêng hệ thống sông Vàm Cỏ và vùng bán đảo Cà Mau-Kiên Giang độ mặn cao nhất xuất hiện vào nửa đầu tháng 5/2016.
Năm 2016 trên sông Mê Công đã xuất hiện 4 đợt lũ. Mực nước các trạm trên dòng chính sông Mê Công luôn ở mức thấp hơn so với TBNN khoảng 1,0-4,0m. Tổng lượng dòng chảy mùa lũ trên các trạm chính luôn ở mức thấp hơn so với TBNN từ 25-45%. Đến nửa đầu tháng 12/2016, mực nước các trạm trên dòng chính từ hạ Lào về Cam Pu Chia cao hơn TBNN cùng kỳ từ 0,4-0,8m và cao hơn cùng kỳ năm 2015 từ 1,5-2,5m.
Do lượng dòng chảy từ thượng nguồn về thấp nên trong mùa lũ năm 2016, tại đầu nguồn sông Cửu Long chỉ xuất hiện 5 đợt dao động. Mực nước cao nhất năm trên sông Tiền tại Tân Châu 3,07m (ngày 17/10) và trên sông Hậu tại Châu Đốc 2,84m (ngày 17/10) thấp hơn đỉnh lũ TBNN từ 0,8-1,02m.
Những tháng đầu năm 2017, trên các sông ở Thanh Hóa, Hà Tĩnh đến Quảng Ngãi, Khánh Hòa xuất hiện 2-3 đợt dao động; các sông khác ở Trung Bộ và khu vực Tây Nguyên biến đổi chậm. Lượng dòng chảy trung bình tháng trên các sông  Trung Bộ và khu vực Tây Nguyên phổ biến ở mức cao hơn TBNN cùng kỳ từ 10-30%; một số sông cao hơn nhiều như Quảng Nam, Quảng Ngãi cao hơn 100-150%, các sông ở Đăk Lăk cao hơn 60-70%; một số sông thấp hơn TBNN như thượng lưu sông Cả, các sông ở Hà Tĩnh, Kon Tum thấp hơn 10-20%, hạ lưu sông Cả, nam Bình Thuận thấp hơn 50-70%, riêng Khánh Hòa thấp hơn 80-90%.
Ở trung, thượng lưu sông Mê Kông mực nước luôn cao hơn TBNN cùng kỳ từ 0,9-2,5m. Mực nước đầu nguồn sông Cửu Long tại Tân Châu và Châu Đốc cao hơn TBNN từ 0,35-0,6m. Xâm nhập mặn ở khu vực ĐBSCL cơ bản ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm, không ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và dân sinh.
1.8. Khí tượng thủy văn biển
Bão, ATNĐ và KKL trong năm 2016đã gây nhiều đợt sóng lớn trên biển và vùng ven bờ với nhiều trạm đảo đã ghi nhận độ cao sóng cao từ 3,0-5,0m; vùng ven bờ 2,0-3,0m.
Nước dâng bão đáng kể nhất ghi nhận tới gần 1,0m ở ven biển Hải Phòng - Nam Định trong bão số 1, tuy nhiên do bão đổ bộ vào thời kỳ triều kiệt nên không gây ngập lụt vùng ven biển. Hiện tượng triều cường do thủy triều lên cao kết hợp với nước dâng do gió mùa cũng đã gây thiệt hại đáng kể tại ven biển miền Trung và Nam Bộ vào các tháng cuối năm 2016.
Từ đầu năm 2017 đến nay, thiên tai trên đất liền xuất hiện không nhiều. Trên biển, các đợt KKL gây nhiều ngày có gió đông bắc cấp 6-7, giật cấp 8-9 và sóng lớn trên các vùng biển; trung tuần tháng 1/2017, trên khu vực Nam Biển Đông cũng xuất hiện một vùng áp thấp nhưng tan trên biển và không ảnh hưởng đến đất liền nước ta. Tuy nhiên, hiện tượng mưa trái mùa xuất hiện nhiều ở Nam Bộ, trong đó có TP. Hồ Chí Minh ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động KT-XH và cuộc sống của người dân.
2. Công tác dự báo phục vụ
Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương đã theo dõi chặt chẽ tình hình KTTV trên phạm vi cả nước, phát hiện và dự báo kịp thời các hiện tượng thời tiết thủy văn nguy hiểm. Công tác cảnh báo sớm được đặc biệt chú trọng. Trong các bản tin thiên tai luôn kèm theo cấp độ rủi ro thiên tai theo quy định.
Ngay từ đầu năm 2016, Trung tâm đã nhận định về khả năng hiện tượng El Nino sẽ có nhiều thay đổi và chuyển dần về trạng thái trung tính và có khả năng thiên về pha lạnh gần La Nina nên tình hình bão, áp thấp nhiệt đới sẽ xuất hiện muộn và nhiều hơn bình thường; mưa và lũ sẽ có diễn biến bất thường.
2.1. Công tác dự báo không khí lạnh
Năm 2016, đã dự báo sát với thực tế 24 đợt KKL ảnh hưởng đến nước ta về cường độ, thời gian và khu vực ảnh hưởng, các hiện tượng thời tiết nguy hiểm kèm theo. Đặc biệt đã theo dõi và dự báo tương đối chính xác đợt KKL mạnh xảy ra từ 21 đến ngày 28/01/2016 gây ra nhiệt độ thấp kỷ lục trong 40 năm qua, mưa tuyết, băng giá diện rộng đã xuất hiện ở vùng núi Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ. Các đợt KKL gây rét đậm, rét hại trên diện rộng đều được dự báo trước 2-3 ngày, ngoài ra còn dự báo được về khả năng kéo dài của các đợt rét đậm, rét hại. Trong các đợt rét đậm, rét hại Trung tâm thường xuyên cập nhật thông tin nhiệt độ lúc 6h phục vụ giáo dục, y tế cho các tỉnh, thành phố.
2.2. Công tác dự báo bão, ATNĐ
Năm 2016, hoạt động của bão và ATNĐ trên Biển Đông tương đối nhiều. Nhiều cơn bão có diễn biến phức tạp và không tuân theo quy luật khí hậu gây khó khăn cho công tác dự báo, đặc biệt là hiện tượng dông lốc kèm theo bão.
Nhìn chung, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương đã theo dõi chặt chẽ các cơn bão, ATNĐ từ khi còn là một vùng áp thấp. Phát các bản tin dự báo bão, ATNĐ kịp thời theo đúng quy định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai của Thủ tướng Chính phủ. Khi bão bắt đầu ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta, tần suất các bản tin tăng lên 1 giờ/lần. Các bản tin được chuyển kịp thời đến Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống thiên tai, các phương tiện thông tin đại chúng. Đối với các cơn bão phát sinh ngay trên Biển Đông (số 1, số 3 và số 7), các bản tin được phát ngay từ khi còn là một vùng áp thấp.
Dự báo tương đối phù hợp, trước từ 1-2 ngày thời điểm bão đổ bộ vào đất liền Việt Nam. Dự báo sát thực tế khu vực đổ bộ, thời gian đổ bộ và vùng ảnh hưởng của 4 cơn bão và 1 ATNĐ ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền Việt Nam.Dự báo tương đối đúng khu vực, phạm vi xảy ra mưa lớn diện rộng, tổng lượng mưa phổ biến cho cả đợt mưa, thời điểm bắt đầu và kết thúc của đợt mưa do ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của bão, ATNĐ.
Chế độ phát tin bão, ATNĐ được thực hiện sớm hơn so với thời gian quy định trong quy định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai. Trung tâm đã phối hợp chặt chẽ với các Đài KTTV khu vực, các Đài KTTV tỉnh và huy động các trạm quan trắc khí tượng ven biển, trên đất liền, các trạm ra đa thời tiết trong khu vực có khả năng giám sát bão, ATNĐ thực hiện quan trắc từng giờ (hoặc 30 phút) nhằm thu thập đầy đủ thông tin số liệu, phục vụ công tác dự báo. Ngoài ra, Trung tâm còn phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ngoài ngành liên quan đến công tác phòng chống thiên tai, các phương tiện thông tin đại chúng như Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài truyền hình Việt Nam, các báo ra hàng ngày và đưa lên trang Web của Trung tâm để kịp thời phục vụ công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiệt hại do bão, ATNĐ gây ra.
2.3. Công tác dự báo mưa lớn
Trong năm 2016 công tác cải tiến nội dung các bản tin cảnh báo, dự báo mưa lớn diện rộng đã được Trung tâm chú trọng và triển khai một cách có hiệu quả. Hầu hết các đợt mưa lớn diện rộng đều đã được cụ thể hóa một cách chi tiết nhất, không chỉ trên một vùng rộng lớn mà đã cụ thể hóa đến từng khu vực nhỏ. Ngoài việc cảnh báo, dự báo một cách tương đối sát, phù hợp với thực tế các đợt mưa lớn diện rộng xảy ra, Trung tâm còn cảnh báo và dự báo khá sát các hiện tượng thời tiết cực đoan đi kèm như: tố, lốc, sạt lở đất, lũ quét,…
2.4. Công tác dự báo thủy văn
Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương đã theo dõi chặt chẽ tình hình thủy văn trên phạm vi cả nước, phát hiện và dự báo kịp thời các hiện tượng thủy văn nguy hiểm, công tác cảnh báo sớm được đặc biệt chú trọng. Đặc biệt tình hình thiếu nước, hạn hán ở Trung Bộ, Tây Nguyên và xâm nhập mặn ở Nam Bộ trong mùa cạn, lũ lớn và đặc biệt lớn ở khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên trong các tháng mùa lũ. Thực hiện dự báo phục vụ Quy trình vận hành liên hồ chứa trên sông Hồng, các sông Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ theo đúng quy định. Trong các bản tin thiên tai luôn kèm theo cấp độ rủi ro thiên tai theo quy định. Mức đảm bảo các vị trí dự báo phổ biến đều đạt và vượt chỉ tiêu từ 2-7%.
Cảnh báo sớm trước 2-3 ngày khả năng xuất hiện các đợt lũ vừa và lớn trên các sông, đặc biệt lũ lớn và kéo dài trên lưu vực các sông ở Quảng Ngãi và Bình Định. Trong các tin lũ, tin lũ khẩn cấp đều kèm theo các thông tin cảnh báo ngập lụt, nguy cơ xảy ra lũ quét,sạt lở đất và nguy cơ mất an toàn của một số hồ chứa tại các địa phương.
Trong các đợt mưa lũ, Trung tâm đã phối hợp chặt chẽ với các Đài KTTV khu vực, các Đài tỉnh để trao đổi, thống nhất trị số dự báo, kịp thời ra các bản tin cảnh báo, dự báo mưa lũ, ngập lụt trên các lưu vực sông; dự báo diễn biến lũ trên các sông khá sát với tình hình lũ thực tế xảy ra góp phần quan trọng trong công tác phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm 2016.
2.5. Công tác dự báo khí tượng thủy văn biển
Trong năm 2016, công tác dự báo khí tượng thủy văn biển đã được thực hiện đúng quy trình, quy định, với các bản tin dự báo sóng biển, thủy triều được phát đi hàng ngày, hàng tuần. Các bản tin nước dâng do bão, cảnh báo gió mạnh, sóng lớn trên biển và triều cường thường xuyên được cập nhật. Ngoài ra nhiều bản tin dự báo dòng chảy và lan truyền vật thể trôi trên biển đã được thực hiện trong nhiều sự cố trên biển.
Trung tâm đã tổ chức họp rút kinh nghiệm về công tác dự báo bão, mưa, lũ ngay sau khi kết thúc đợt dự báo như đối với bão số 1, mưa lũ do bão số 2, bão số 3, mưa lũ ở Trung Bộ,… nhằm tăng cường chất lượng dự báo cho các đợt thiên tai sau này.
3. Nhận định xu thế thiên tai KTTV năm 2017
3.1. Nhận định chung cho năm 2017
Theo đánh giá của hầu hết các Trung tâm khí hậu lớn trên thế giới, nhiệt độ mặt nước biển tại khu vực trung tâm xích đạo Thái Bình Dương (NINO 3.4) có xu hướng tăng nhanh từ các tháng đầu năm 2017. Hiện tại,chuẩn sai nhiệt độ mặt nước biển khu vực NINO 3.4đang cao hơn so với giá trị trung bình chuẩn là 0.1oC. Như vậy hiện nay, ENSO đang ở trạng thái trung tínhvà đang có dấu hiệu chuyển từ pha lạnh sang nóng của hiện tượng này.
Tổng hợp các kết quả dự báo của các mô hình, Cơ quan Khí tượng Úc (BoM) nhận định, ENSO sẽ đạt ngưỡng bắt đầu của hiện tượng El Nino vào khoảng tháng 7/2017. Tuy nhiên, BoM cũng khuyến cáo về độ tin cậy thấp của các mô hình dự báo vào thời điểmnày trong năm.
Trung tâm Dự báo Khí hậu Hoa Kỳ (CPC/NCEP) dự báo xác suất xuất hiện El Nino vào khoảng 50-60% trong những tháng đầu mùa hè và xác suất này tăng lên vào thời kỳ cuối năm 2017.
Kết quả dự báo tổ hợp nhiều thành phần của Trung tâm Dự báo Thời tiết hạn vừa Châu Âu (ECMWF) cho thấy, chuẩn sai nhiệt độ mặt nước biển khu vực NINO3.4 sẽ đạt ngưỡng El Nino vào khoảng tháng 6/2017.
Trung tâm Khí hậu Tokyo, Nhật Bản (TCC) dự báo,có đến 60% khả năng ENSO tiếp tục ở trạng thái trung tính đến tháng 7/2017 và chỉ có 40% khả năng xuất hiện El Nino vào thời gian này.
Như vậy, theo các dự báo mới nhất thì đa số các Cơ quan dự báo khí hậu trên thế giới đều cho rằng, hiện tượng ENSO sẽ có xu hướng chuyển sang trạng thái El Nino từ nửa cuối năm 2017 và nếu vậy, sẽ lànăm thứ 3 liên tiếp xuất hiện El Nino chỉ sau một thời kỳ tương đối ngắn chuyển sang pha lạnh.
Nếu hiện tượng ENSO chuyển sang trạng thái El Nino vào nửa cuối năm 2017, mặc dù nhiều khả năng bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) trên khu vực Biển Đông vẫn sẽ xuất hiện nhiều hơn so với trung bình nhiều năm, nhưng số lượng bão và ATNĐ ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta sẽ ít hơn TBNN. Ngoài ra, tính bất quy luật của bão sẽ tăng cao vào những năm chịu tác động của El Nino.
Mùa mưa ở Bắc Bộ đến muộn hơn TBNN. Thời điểm bắt đầu mùa mưa ở Nam Bộ và Tây Nguyên có khả năng đến sớm hơn TBNN (TBNN khoảng 5 - 6 cơn). Dưới tác động của El Nino vào thời kỳ cuối năm, lượng mưa trên phạm vi toàn quốc có xu hướng thiếu hụt so với TBNN vào cuối mùa mưa năm 2017. Tuy nhiên, hiện tượng mưa lớn đến rất lớn cục bộ trong thời đoạn ngắn thường xuất hiện trong những năm chịu tác động của El Nino.
Mùa mưa lũ chính vụ năm 2017 trên các sông Bắc Bộ có khả năng xuất hiện muộn. Đỉnh lũ trên các sông suối tương đương mức đỉnh lũ năm 2016, phổ biến ở mức BĐ 2-3, một số sông suối nhỏ trên BĐ 3. Lũ quét, sạt lở đất xảy ra nhiều hơn năm 2016, đặc biệt tại các khu vực miền núi phía Tây Bắc Bộ. Các khu đô thị và thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định,… có khả năng xuất hiện vài đợt ngập úng cục bộ.
Tình hình khô hạn, thiếu nước ở các tỉnh ven biển Trung Bộ sẽ kéo dài tới tháng 8/2017. Trênnhiều sông khả năng sẽ xuất hiện mực nước thấp nhất trong chuỗi số liệu quan trắc cùng thời kỳ và thấp nhất lịch sử. Dòng chảy trên các sông ở Trung Bộ tiếp tục giảm dần, các sông ở Tây Nguyên, Nam Bộ tăng dần.
Mùa lũ trên các sông ở Trung Bộ, Tây Nguyên có khả năng đến sớm hơn so với TBNN; đỉnh lũ năm 2017 trên các sông ở Trung Bộ, Tây Nguyên phổ biến thấp hơn đỉnh lũ năm 2016.
Mùa lũ trên các sông ở Nam Bộ có khả năng xuất hiện đúng thời kỳ. Đỉnh lũ năm 2017 trên các sông ở Nam Bộ đều cao hơn đỉnh lũ năm 2016.
3.2. Nhận định chi tiết cho giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 10/2017
3.2.1. Bão, áp thấp nhiệt đới
Bão và ATNĐ: Bão và ATNĐ trong năm 2017 có khả năng xuất hiện sớm trên Biển Đông và số lượng hoạt động có khả năng cao hơn TBNN và tập trung ở khu vực Bắc Biển Đông trong các tháng đầu mùa mưa bão. Tuy nhiên số lượng bão và ATNĐ có khả năng ảnh hưởng đến đất liền nước ta ít hơn TBNN.
Các hiện tượng thời tiết nguy hiểm: Trong các tháng mùa mưa bão, đặc biệttháng 4 và tháng 5 là những tháng chuyển mùa, do vậy nhiều khả năng các hiện tượng dông, sét, tố lốc, mưa đá sẽ xuất hiện gia tăng về tần suất trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt khu vực Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ.
3.2.2. Nhiệt độ, nắng nóng
Nhiệt độ trung bình trong 6 tháng tới trên phạm vi toàn quốc phổ biến cao hơn TBNN từ 0.5-1.0oC. Mức độ cao hơn giá trị TBNN của nhiệt độ trung bình ở khu vực miền Bắc cao hơn ở khu vực miền Nam.
Nắng nóng tại các khu vực trên toàn quốc có xu hướng xuất hiện muộn và ít có khả năng kéo dài.
3.2.3. Lượng mưa, mưa lớn
Khu vực Bắc Bộ: Các tháng5 và thời kỳ tháng 9, tháng 10/2017, lượng mưa tại khu vực Bắc Bộ phổ biến ở mức thấp hơn TBNN từ 10-30% cùng thời kỳ; Các tháng từ tháng 6 đến tháng 8/2017 ở mức xấp xỉ TBNN cùng thời kỳ. Mùa mưa tại khu vực Bắc Bộ có khả năng đến muộn hơn và kết thúc sớm hơn so với trung bình nhiều năm.
Khu vực Trung Bộ:
- Tháng 5 và tháng 6/2017, lượng mưa tại khu vực Bắc và Trung Trung Bộ phổ biến ở mức thấp hơn TBNN từ 10-20%; khu vực Nam Trung Bộ có khả năng ở mức xấp xỉ TBNN cùng thời kỳ.
- Tháng 7 và tháng 8/2017, lượng mưa tại khu vực Trung Bộ phổ biến dao động ở mức TBNN cùng thời kỳ.
- Tháng 9 và tháng 10/2017, lượng mưa tại khu vực Trung Bộ phổ biến ở mức thấp hơn TBNN từ 15-30%.
Khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ:
Từ tháng 5 đến tháng 8/2017, tổng lượng mưa tại khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ có khả năng phổ biến ở mức cao hơn TBNN cùng thời kỳ từ 15-30%; Tháng 9 có khả năng dao động ở mức xấp xỉ TBNN cùng thời kỳ. Từ tháng 10/2017 tổng lượng mưa có khả năng thấp hơn từ 15-30% so với TBNN cùng thời kỳ.
Mùa mưa tại khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ có khả năng đến sớm và kết thúc sớm, do vậy từ nửa cuối tháng 4, sang đầu tháng 5/2017 lượng mưa có xu hướng tăng dần và đến khoảng tháng 10/2017 lượng mưa có xu hướng thiếu hụt so với TBNN cùng thời kỳ.
3.2.5. Thủy văn Bắc Bộ
Mùa lũ 2017 trên các sông Bắc Bộ có khả năng đến muộn hơn TBNN, ít có khả năng xuất hiện lũ tiểu mãn đồng thời trên nhiều lưu vực sông. Đỉnh lũ trên các sông suối tương đương năm 2016, phổ biến ở mức BĐ 2-3, một số sông suối nhỏ trên BĐ 3. Lũ quét, sạt lở đất có khả năng xảy ra nhiều hơn năm 2016, đặc biệt tại các khu vực miền núi phía Tây Bắc Bộ.


3.2.6. Thủy văn Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ
Từ tháng 4-5/2017, do điều tiết của các hồ chứa nên lượng dòng chảy  hạ lưu các sông ở Quảng Nam, Phú Yên ở mức cao hơn TBNN từ 10-40%; các sông khác ở Trung Bộ và Tây Nguyên phổ biến thiếu hụt từ 20-35% so với TBNN.
Mùa lũ 2017 trên các sông ở Tây Nguyên và thượng nguồn sông Mê Công khả năng đến sớm hơn so với TBNN. Diễn biến lũ trên các sông ở Trung Bộ và đầu nguồn sông Cửu Long phù hợp với quy luật nhiều năm, đỉnh lũ năm trên các sông chính ở Trung Bộ, Tây Nguyên tương đương mức TBNN, trên một số sông suối nhỏ và thượng lưu các sông vẫn xuất hiện lũ lớn.
Đỉnh lũ năm ở đầu nguồn sông Cửu Long ở mức BĐ2-BĐ3. Tuy ít có khả năng xuất hiện lũ đặc biệt lớn nhưng tiềm ẩn nguy cơ cường suất lũ lên nhanh hơn bình thường do tác động từ việc xả lũ của thủy điện ở thượng lưu.
3.2.7. Khí tượng thủy văn biển
Thời tiết trên biển, vùng ven bờ có khả năng diễn biến phức tạp hơn so với năm 2016. Bão đổ bộ vào vùng ven bờ có nguy cơ gây ngập lụt và xói lở bờ biển cao hơn năm 2016. Ngoài ra các đợt gió mùa mạnh kết hợp với triều cường, sóng lớn sẽ tiếp tục là nguy cơ gây ngập lụt tại các khu vực trũng ven bờ và cửa sông.

TRUNG TÂM DỰ BÁO KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN TRUNG ƯƠNG
****************************************************************************

ỦY BAN QUỐC GIA
TÌM KIẾM CỨU NẠN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số:       /BC-UB
   Hà Nội, ngày      tháng 4 năm 2017

BÁO CÁO
Tổng kết công tác tìm kiếm cứu nạn năm 2016,
trọng tâm nhiệm vụ năm 2017.

I.TÌNH HÌNH CHUNG
Năm 2016, tình hình thời tiết, khí hậu, thiên tai diễn biến phức tạp, cực đoan như: Rét đậm, rét hại tại các tỉnh miền núi phía Bắc; hạn hán ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, xâm nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long; đặc biệt là 05 đợt mưa lớn gây lũ chồng lũ khu vực miền Trung. Các sự cố về sập đổ công trình; cháy nổ, cháy rừng; sự cố môi trường; tai nạn máy bay; tai nạn tàu, thuyền trên biển, trên sông gia tăng gây thiệt hại lớn về người và tài sản, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sản xuất của nhân dân và phát triển bền vững của đất nước.
Trong năm trên toàn quốc xảy ra 2.694 vụ, thiên tai, tai nạn, sự cố (không tính tai nạn giao thông đường bộ, đường sắt), so với cùng kỳ năm trước tăng 183 vụ = 6,8% (2.694/2.511). Làm chết 736 người, tăng so với năm trước 71 người = 9,6% (736/665); mất tích 194 người, giảm so với năm ngoái 24 người = 12% (194/218); bị thương 755 người, tăng 155 người = 20,5% (755/600); chìm 281 phương tiện; cháy, hỏng 319 phương tiện; cháy 1.064 nhà xưởng, sập đổ: 1.272 nhà dân; tốc mái hư hỏng, ngập 349.966 nhà; cháy khoảng 3.374 ha rừng và thảm thực vật, hư hại 329.441 ha hoa màu. Thiệt hại về tài sản hàng chục nghìn tỷ đồng.
* Quý 1/2017 thời tiết, thiên tai tiếp tục diễn biến phức tạp; tai nạn, sự cố gia tăng, cụ thể: Xảy ra 753 vụ/1.667 người/223 phương tiện bị nạn (tăng 31 vụ/23 phương tiện và giảm 220 người so với quý 1/2016). Trong đó có 14 vụ/82 người/05 phương tiện liên quan đến yếu tố nước ngoài. Hậu quả: Chết 187 người; mất tích 64 người; bị thương 244 người; chìm 76 phương tiện; hư hỏng 91 phương tiện; cháy 56 phương tiện, 411 nhà xưởng và hơn 329 ha rừng; sập 827 nhà; hư hỏng tốc mái 735 nhà; ngập 18.369 nhà; thiệt hại 36.882 ha lúa và hoa màu; sạt lở 625 m2 đường giao thông; tràn 10 m3  dầu ra biển.
II. KẾT QUẢ CÔNG TÁC TKCN NĂM 2016
Trước thực tế diễn biến của thiên tai, tai nạn, sự cố, Thủ tướng, Phó Thủ tướng Chính phủ trong những thời khắc phức tạp, khó khăn đã trực tiếp có mặt ở các khu vực trọng điểm nhất chỉ đạo công tác ứng phó, khắc phục hậu quả mưa lũ và tìm kiếm người mất tích trong các sự cố, thăm hỏi, tặng quà, động viên người dân vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống; UBQG TKCN, BCĐTW về PCTT và một số Bộ, ngành đã cử các đoàn công tác đi kiểm tra theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là chủ động, quyết liệt, với tinh thần tự lực, tự cường là chính, tương thân tương ái và tránh tư tưởng chủ quan. Các cơ quan thông tin truyền thông thường xuyên cập nhật, đưa tin về diễn biến các đợt thiên tai, sự cố lớn và công tác chỉ đạo ứng phó của Chính phủ, UBQG TKCN, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTT.
- Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn đã chỉ đạo điều chỉnh, bổ sung kế hoạch phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và tìm kiếm cứu nạn; phương án ứng phó với bão mạnh, siêu bão. Xây dựng Kế hoạch ứng phó sự cố cháy nổ, sập đổ công trình; cháy rừng; hoá chất độc xạ bảo vệ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và HĐND các cấp. Thẩm định, phê duyệt 11 Kế hoạch Ứng phó sự cố tràn dầu của 03 tỉnh (TP): TP Đà Nẵng, tỉnh Nam Định, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) và 08 cơ sở thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Thực hiện tốt chế độ ứng trực 24/24 giờ. Chủ động nắm chắc tình hình, tham mưu đề xuất xử lý kịp thời, điều động lực lượng, phương tiện ứng phó có hiệu quả các tình huống;
- Phối hợp chặt chẽ với Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai, Ban Chỉ đạo Trung ương các vấn đề cấp bách về bảo vệ và phòng chống cháy rừng; ban hành các công điện chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương triển khai các biện pháp ứng phó với bão, mưa lũ, ngập lụt, sạt lở đất, cháy nổ, cháy rừng và TKCN. Phối hợp với Bộ Ngoại giao đề nghị các nước trong khu vực hỗ trợ, giúp đỡ ngư dân Việt Nam tránh, trú bão và phối hợp TKCN khi có tàu thuyền gặp nạn trên biển;
- Các Bộ, ngành, địa phương đã triển khai thực hiện nghiêm túc các Quyết định, Chỉ thị, Công điện của Thủ tướng Chính phủ và UBQG TKCN về công tác ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thiên tai và TKCN; chủ động kiện toàn, điều chỉnh bổ sung Ban Chỉ huy phòng chống thiên tai - TKCN, xây dựng quy chế hoạt động, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên phụ trách. Khi có bão, mưa lũ, ngập lụt, sạt lở hoặc khi xảy ra các vụ tai nạn, sự cố nghiêm trọng đã huy động cả hệ thống chính trị, phân công cán bộ chủ chốt trực tiếp đến hiện trường, cùng chính quyền cơ sở chỉ đạo công tác tìm kiếm cứu nạn và khắc phục hậu quả. Các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội luôn đồng hành, kịp thời hỗ trợ tiền, hàng hóa, vật chất giúp chính quyền và nhân dân khắc phục hậu quả, khôi phục sản xuất, ổn định cuộc sống;
- Các lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, Trung tâm phối hợp tìm kếm cứu nạn Hàng hải Việt Nam thực sự là lực lượng nòng cốt trong TKCN, khắc phục khó khăn tham gia cứu hộ, cứu nạn trên các vùng biển của Tổ quốc trong mọi điều kiện, kịp thời, hiệu quả, giúp ngư dân bám biển khai thác hải sản và khẳng định chủ quyền biển đảo quốc gia;
- Các Trung tâm Quốc gia huấn luyện TKCN đường không, đường biển; Trung tâm ứng phó sự cố tràn dầu khu vực miền Bắc, miền Trung, miền Nam; các Tiểu đoàn Công binh cứu sập/Bộ Quốc phòng; các đơn vị cảnh sát PCCC và Cứu nạn cứu hộ; Cảnh sát cơ động/Bộ Công an; các Trung tâm Phối hợp TKCN Hàng hải, Hàng không, Cấp cứu khẩn nguy sân bay; Trung tâm Cấp cứu mỏ... đã thực hiện tốt công tác phối hợp, hiệp đồng trong ứng phó, khắc phục sự cố, thiên tai và TKCN, góp phần giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản của Nhà nước và Nhân dân. Cụ thể:
+ Năm 2016 các Bộ, ngành, địa phương đã huy động 197.149 lượt người; 11.445 lượt phương tiện các loại tham gia ứng phó sự cố, thiên tai và TKCN. Ủy ban Quốc gia TKCN trực tiếp chỉ đạo ứng phó, khắc phục hậu quả 04 cơn bão, 05 đợt mưa lũ lớn; 594 vụ tai nạn, sự cố tàu thuyền trên biển, so với cùng kỳ năm trước giảm 2% (594/605); 1.148 vụ hỏa hoạn, cháy nổ, sập đổ, sự cố hóa chất tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước (1.148/1.044);
* Quý 1/2017 điều động 60.285 người (Bộ đội 31.142; Dân quân tự vệ 16.247; lực lượng khác 12.896) và 1.904 phương tiện các loại (Bộ đội 877; lực lượng khác 1.027) tham gia ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố và tìm kiếm cứu nạn
- Kết quả cứu được 4.868 người, so với cùng kỳ năm trước tăng 20,37% (4.868/4.044), 289 phương tiện, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,8% (289/263), trong đó có 41 vụ/189 người/15 phương tiện nước ngoài. Đặc biệt, công tác quản lý, thông báo hướng dẫn, kêu gọi tàu thuyền đã có chuyển biến rõ rệt, với 571.841 lượt phương tiện/1.903.620 lượt người đang hoạt động trên biển di chuyển, tránh trú ATNĐ, bão an toàn; tổ chức di dời 29.335 hộ dân đến nơi an toàn. Điển hình như khắc phục hậu quả và TKCN vụ nổ tại khu đô thị Văn Phú,  Hà Đông; vụ sập nhà tại Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, TP Hà Nội; vụ chìm tàu du lịch Thảo Vân 2 trên Sông Hàn, TP Đà Nẵng; sự cố công trình đập thuỷ điện Sông Bung 2; tìm kiếm cứu nạn máy bay Su 30 và CaSa 212. Đặc biệt là công tác mua, vận chuyển, cấp nước sạch cho nhân dân vùng hạn, mặn và giúp dân khắc phục hậu quả mưa lũ, ngập lụt tại các tỉnh miền Trung.  
- Thực hiện tốt công tác huấn luyện, diễn tập để nâng cao trình độ khả năng cơ động ứng cứu, TKCN của các lực lượng với 05 khoá đào tạo điều khiển phương tiện thủy nội địa; 09 khoá huấn luyện nâng cao nghiệp vụ điều khiển phương tiện thủy nội địa, 02 khoá huấn luyện nghiệp vụ TKCN đường không, 03 khoá huấn luyện nghiệp vụ TKCN đường biển; 03 khoá/210 người huấn luyện nghiệp vụ, 05 lớp/971 người tuyên tuyên công tác ứng phó sự cố tràn dầu và TKCN; 01 khoá/73 người tập huấn nâng cao nghiệp vụ PCCC; 12 cuộc diễn tập PCTT - TKCN cấp huyện, 02 cuộc hội thao PCCC an toàn, có hiệu quả thiết thực. Đặc biệt đã tổ chức thành công cuộc diễn tập trên bản đồ về ứng phó thảm họa và cứu trợ nhân đạo có sự tham gia của lực lượng cứu hộ, cứu nạn Hoa Kỳ; tham gia diễn tập cứu trợ thảm hoạ, nhân đạo và quân y có thực binh (FTX 16) tại Thái Lan đạt kết quả tốt, an toàn tuyệt đối;
Với kết quả trên, trong năm 2016 UBQG TKCN đã kịp thời tặng bằng khen cho 22 tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác TKCN vụ đắm tàu Thảo Vân trên sông Hàn và vụ tai nạn máy bay Su 30 và Casa 212.
* Qua thực tế công tác ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn năm qua, chúng ta có thể rút ra một số vấn đề sau:
- Công tác chỉ đạo được triển khai nhanh chóng, kịp thời, quyết liệt từ Chính phủ đến các Bộ, ngành địa phương, phù hợp với diễn biến tình hình thực tế; công tác chỉ huy, điều hành, phối hợp giữa lực lượng, phương tiện bảo đảm chặt chẽ, thống nhất là yếu tố rất quan trọng góp phần giảm thiểu thiệt hại khi xảy ra sự cố, thiên tai và TKCN.
- Công tác huy động nguồn lực và tổ chức ứng phó, khắc phục được thực hiện đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, điều này được thể hiện bằng các kế hoạch, phương án ứng phó và tìm kiếm cứu nạn được chuẩn bị chu đáo, cụ thể, sát với đặc điểm sự cố, thiên tai ở từng địa bàn, từng khu vực.
- Các đơn vị chuyên trách, kiêm nhiệm TKCN phát huy tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ; chủ động phối hợp, hiệp đồng với chính quyền địa phương, các lực lượng tại chỗ kịp thời giúp nhân dân ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thiên tai, ổn định đời sống.
- Công tác bảo đảm phương tiện, trang bị thường xuyên và dự trữ được chuẩn bị đầy đủ, năm 2016 đã tham mưu với Chính phủ xuất, cấp kịp thời trang thiết bị ứng phó sự cố, thiên tai và TKCN cho 6 bộ và 63 tỉnh, thành. Một số địa phương đã chủ động nguồn lực tại chỗ để mua sắm thêm phương tiện, trang bị đáp ứng công tác ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.
* Bên cạnh đó vẫn còn một số vấn đề tồn tại cần rút kinh nghiệm, đó là:  
- Sự phối hợp trong chỉ đạo, điều hành hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn còn bất cập; một số địa phương chưa phát huy vai trò của cơ quan và lực lượng thường trực, dẫn tới khó khăn trong chỉ đạo, điều hành; có nơi cơ quan chủ trì tham mưu, đề xuất thiếu chủ động nắm tình hình, lúng túng trong xử lý.
- Kiểm tra, rà soát các kế hoạch, phương án; chuẩn bị lực lượng, phương tiện, vật tư theo phương châm “4 tại chỗ” của một số địa phương chưa tốt và còn biểu hiện chủ quan, nên khi xảy ra sự cố, bão, lũ còn bị động, có nơi chỉ sau vài ngày đã đề nghị cứu trợ; trong xử lý vụ việc TKCN trên biển nhiều vụ đơn giản có thể huy động lực lượng tại chỗ nhưng vẫn đề nghị UBQG TKCN điều động phương tiện gây lãng phí không cần thiết. Cung cấp và báo cáo thông tin cứu nạn còn chậm, chưa chính xác; tình trạng báo nạn giả chưa được khắc phục, gây khó khăn, tốn kém trong tìm kiếm cứu nạn (trong năm có 499 vụ báo TKCN, trong đó có 119 vụ báo nạn giả);
- Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, hướng dẫn phòng chống, ứng phó thiên tai - TKCN còn hạn chế, một bộ phận người dân thiếu kỹ năng ứng phó, có nơi chính quyền cơ sở còn chủ quan, chưa thực hiện triệt để việc sơ tán, di dời dân ra khỏi vùng ngập lụt, lũ quét, sạt lở, đây là khâu yếu nhất dẫn tới thiệt hại về người;
- Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng chưa nghiên cứu đầy đủ đến tác động của thiên tai. Việc vận hành điều tiết, xả lũ một số hồ chứa còn bất cập, thông tin xả lũ đến người dân chưa kịp thời, gây khó khăn trong ứng phó; nhiều hồ chứa thiếu thiết bị quan trắc khí tượng, thủy văn nên bị động trong vận hành, điều tiết;
- Trang bị, phương tiện, vật tư cho các lực lượng tại chỗ để ứng phó thiên tai, tìm kiếm cứu nạn chưa đáp ứng được yêu cầu; những trang bị hiện đại, chuyên dụng cho các đơn vị chuyên trách và kiêm nhiệm còn thiếu, nhất là các trang bị TKCN biển xa, chữa cháy rừng và ứng cứu sập đổ công trình ngầm. Ngân sách bảo đảm cho nhiệm vụ phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn còn khó khăn.
III. NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2017
Theo dự báo do tác động của biến đổi khí hậu, năm 2017 tình hình thời tiết, khí tượng tiếp tục diễn biến phức tạp, cực đoan và khó lường; có khả năng xuất hiện nhiều cơn bão và áp thấp nhiệt đới; các loại hình thiên tai như: Giông lốc, mưa đá, lũ ống, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất đá, giá rét, nắng nóng, hạn hán... cùng với đó, quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình ngầm; các khu đô thị, khu công nghiệp; hoạt động khai khoáng; giao thông hàng hải, hàng không; khai thác, lọc hóa dầu - khí; khai thác hải sản... tiềm ẩn nhiều nguy cơ tai nạn, sự cố khó lường có thể xảy ra cả trên đất liền và trên biển. Để chủ động phòng, chống, ứng phó có hiệu quả các sự cố và diễn biến bất thường của thiên tai, hoàn thành nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn năm 2017. Các Bộ, ngành, địa phương cần tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện một số nhiệm vụ sau:
1. Duy trì nghiêm chế độ trực 24/24 giờ, nắm chắc tình hình sự cố, thiên tai trên từng địa bàn. Khi xảy ra sự cố, thiên tai cần phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, báo cáo kịp thời tham mưu đề xuất triển khai các biện pháp ứng phó hiệu quả các tình huống.
2. Triển khai tổ chức thực hiện Nghị định số 30/2017/NĐ-CP ngày 21/3/2017 của Chính phủ Quy định tổ chức, hoạt động ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn. Xây dựng Nghị định Quy định về Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế hoạt động và xử lý thông tin liên lạc khẩn cấp dùng chung phục vụ công tác TKCN (sử dụng số điện thoại 112).
3. Các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục chủ động kiện toàn hệ thống tổ chức TKCN, xây dựng Quy chế hoạt động của Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và TKCN đúng theo Nghị định số 66/2014/NĐ-CP ngày 04/7/2014 Quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai; đặc biệt là cơ chế phối hợp và điều hành để thực hiện có hiệu quả công tác ứng phó sự cố, thiên tai và TKCN. Phát huy tốt hơn phương châm “4 tại chỗ”.
4. Tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, diễn tập, ứng phó các tình huống sự cố, thiên tai và tìm kiém cứu nạn. Đặc biệt tình huống bão mạnh, siêu bão để nâng cao khả năng chỉ đạo, điều hành, hiệp đồng và khả năng cơ động ứng phó, tìm kiếm cứu nạn của các lực lượng.
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (Bộ Quốc phòng) và các lực lượng liên quan tổ chức diễn tập ứng phó bão mạnh kết hợp triều cường và tìm kiếm cứu nạn
5. Bảo đảm vật tư, trang bị tìm kiếm cứu nạn đáp ứng cả thường xuyên và dự trữ. Tiếp tục đầu tư, mua sắm phương tiện, trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn phù hợp với nhiệm vụ của các đơn vị chuyên trách, kiêm nhiệm; phù hợp với nhu cầu, đặc điểm sự cố, thiên tai của địa phương, nâng cao hiệu quả công tác tìm kiếm cứu nạn.
6. Chủ động và tăng cường hợp tác quốc tế song phương, đa phương trong lĩnh vực ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn về huấn luyện, đào tạo, diễn tập; trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm hoạt động tìm kiếm cứu nạn.
Tiếp tục thực hiện kế hoạch trao đổi, hợp tác tìm kiếm cứu nạn trên biển và tiến hành đàm phán vùng tìm kiếm cứu nạn trên biển giữa Việt Nam và các nước có biển liền kề theo kế hoạch thực hiện Công ước SAR 79.
* Đề xuất, kiến nghị
1. Phát huy tốt vai trò, chức năng Thường trực công tác tìm kiếm cứu nạn của cơ quan Quân sự các cấp. Trong phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn, các địa phương cần xây dựng kế hoạch ứng phó cụ thể, trong đó coi trọng việc bảo đảm nước sạch cho người dân; bảo đảm kinh phí mua nước sạch và giao BCHQS tỉnh chủ trì việc vận chuyển, cung cấp nước sạch cho nhân dân.
2. Các địa phương chủ động rà soát, có giải pháp đẩy nhanh công tác di dời dân, bố trí, sắp xếp lại dân cư một cách hợp lý tại các khu vực có nguy cơ mất an toàn như ngập lụt, sạt lở đất, lũ ống, lũ quét đến nơi ở mới, ổn định đời sống. Tăng cường công tác kiểm tra, ngăn chặn kịp thời không để các hộ dân sống ở ven sông, suối, sườn núi; kiểm soát chặt chẽ việc san lấp sông suối, dòng chảy, khai thác cát, sỏi gây ảnh hưởng đến việc thoát lũ.
3. Các địa phương ven biển miền Trung và ngành Thủy sản đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu neo đậu tàu thuyền (theo Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 12/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ) để tàu thuyền ngư dân vào neo đậu khi có mưa lũ lớn, hạn chế neo đậu tại các cửa sông, cửa vịnh dễ bị lũ cuốn trôi, va đập, chìm đắm.
4. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát sau bão, lũ, hạn chế thấp nhất thiệt hại về người do bất cẩn, chủ quan khi qua lại khu vực ngập lụt, ngầm, tràn. Làm tốt công tác quản lý địa bàn, quản lý việc quy hoạch, xây dựng công trình thủy điện, thủy lợi, công trình hạ tầng. Điều chỉnh quy định và xây dựng quy chế phối hợp cụ thể giữa chính quyền địa phương với các chủ hồ chứa thủy lợi, thủy điện trong quá trình điều tiết, xả lũ với yêu cầu nhất quán là bảo đảm an toàn cho vùng hạ du.
5. Tập trung ưu tiên ngân sách đầu tư, mua sắm phương tiện, trang bị phù hợp với thực tế địa phương; những khu vực trọng điểm, thường xuyên bị thiên tai cần được cấp đến từng xã, thôn, cụm dân cư, nhất là phương tiện để thực hiện di dời dân trong tình huống khẩn cấp. Chủ động củng cố lực lượng làm công tác tìm kiếm cứu nạn để xử lý các tình huống.
Báo cáo Thủ tướng Chính phủ bổ sung dự án đóng mới tàu TKCN các vùng biển xa, hoạt động trong điều kiện sóng gió lớn; xây dựng Trạm cứu hộ cứu nạn khu vực Bắc miền Trung (Cửa Gianh/Quảng Bình) vào Đề án Quy hoạch tổng thể lĩnh vực ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn đến năm 2020. Các địa phương căn cứ điều kiện thực tế, quan tâm xây dựng Trạm Cứu hộ cứu nạn tại các cửa sông, các hồ chứa lớn bảo đảm ứng cứu kịp thời khi xảy ra sự cố đắm chìm tàu thuyền./.
                                                          
                                                                   ỦY BAN QUỐC GIA TKCN

 Bấm vào biểu tượng bên cạnh để tải về file đầy đủ 

Đăng nhận xét

MKRdezign

{facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google-plus#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget